Giáo dục

Phân tích Tràng giang của nhà thơ Huy Cận

phan tich trang giang huy can

bài văn phân tích bài tràng giang của huy cận

Xem thêm: Tràng giang nghị luận văn học

mẹophương pháp phân tích bài thơ, đoạn thơ đạt điểm cao

i. dàn ý phân tích tràng giang (chuẩn)

1. mở bài:

giới thiệu tác giả, tác phẩm.

2. thanks bài:

a. nhan đề và lời đề từ:

– nhan đề “trang giang”:

+ là từ Hán việt mang sắc thati cổ kính, với nghĩa là sông dài.+ điệp vần “ang” là vần mở, fo ộn vang, ộ ngân xa liên tiếp nhau, gợi lên hình ảnh ảnh vừa dài.

– lời ề từ “bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”: gợi ra cảm xúc chủ ạo trong bài thơ là nỗi bâng khuâng, buồn bã, chứt chứa qua ỗi rộng lớn.

b. bức tranh thiên nhiên buồn vắng, ảm đạm và nỗi cô đơn của tác giả (khổ 1, 2, 3)

* khổ 1:

– Hình ảnh “Tràng Giang” Là Một with Sông Vừa rộng lại vừa dài, lòng sông lại hết sức yên tĩnh, Song chỉ gợn nhẹ, mang ến cảm gyc pHẳng lặng, h hit.

+ NHữNG ợT SONG Cứ NốI đUôi nhau vỗ vào bờ không ngừng nghỉ, không dứt, tô ậm thêm không gian rộng lớn, bao la. p>

– hình ảnh “with thuyền xuôi mái nước song song”:

+ gợi sự lẻ loi, phó mặc cho dòng đời xô đẩy.+ hình ảnh đối lập với không gian sông nước mênh mông: gợi sự lobé nhỏ>

– “thuyền về nước lại sầu trăm ngả”: sự chia lìa, xa cách, nghe não lòng, đau xót.- “củi một cành khô lạc mấy dòng”:

+ ảo ngữ: nhấn mạnh sự ơn ộc, lẻ loi, vô ịnh.+ đó là tâm sự, nỗi niềm về thn pHận của tac giả, hoang mang, lạc lõng trước thời cuc.

* khổ 2:

– “lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu”:

+ các từ lay: “Lơ thơ”, “đìu hiu”, “chót vot” diễn tả trọn vẹn ược sự cônh, hoang vắng của cảnh vật. thưs gichưa that, hoang vắng, lạnh lẽo.

– “Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”: được hiểu theo nhiều cách

+ cách 1: câu hỏi mong tìm ược một chút âm thanh sự sống, âm thanh của con người.+ cách 2: diễn tả âm thanh đu đó vang lên tiếng chều có 3.+ chi cáru có 3.+ chi cáru có 3. . âm thanh van chợ chiều.

→ dù hiểu theo cách nào thì ý thơ cũng khắc họa sự hoang vắng của không gian.

– “nắng xuống trời lên sâu chót vot”: khoảng cach xa xăm giữa trời và ất ược thể hiện ầy ấn tượng cụm từ “sâu chót” vot “vot. nước mênh mông, rộng lớn, bến cônêu chẳng một bóng người lạnh lẽo, hoang sơ và ảm ạm như chynh lg tác tác.

*khổ 3:

– “bèo dạt về đâu hàng nối hàng”

+ lời tự hỏi, là sự đau ớn trước số pHận, trước thời cuộc, khi chynh bản thn ông cũng không thể tìm ra lối đi đúg ắn, dù muốn thay ổi thế nh ị ị ị ị ị ị ị ị cảnh ngộ chung của một thế hệ, một tầng lớp những con người yêu nước.

– NGHệ Thuật phủ ịnh: “Không một chuyến đò”, “không cầu”: không có thứ gì gắn kết đôi bờ với nhau, thiếu đu dấu vết của sựng, của bón bón bón bón bón bón b

c. nỗi lòng yêu nước, yêu quê hương sâu sắc (khổ 4)

– bức tranh thiên nhiên chiều tà với vẻ đẹp hùng vĩ, thơ mộng:

+ những đám mây trắng cứ hết lớp này ến lớp khác nối tiếp nhau “đùn” lên dưới ang nắng chiều như tạo thành những quả num bạc.+ hình ảnh bong chiều sa.

– tâm trạng của nhân vật trữ tình:

+ “lòng quê dợn dợn vời with nước”:+ những ợt song lan xa.+ khắc họa cảm giác buồn nhớ ến vô tận của nhà thơ.+ “không khói hoàng hôn cũng nhớ nh ớ thiết đến độ không cần đến “khói hoàng hôn” mà lòng vẫn đượm nỗi nhớ mong sâu nặng.

Tham khảo: Khe chim kêu – Vương Duy – Ngữ văn 10

d. Đánh giá

– về nội dung: bài thơ khắc họa bức tranh thiên nhiên buồn sầu, hoang vắng, qua đó bộc lội nỗi buồn cô ơn cùng tình and ối với quê hương, ất nướt nướ c.

+ Bài thơ là sự kết hợp giữa vẻ ẹp cổ điển và hiện ại.+ sử Dụng ngôn ngữ giàu tíh tạo hình, giàu giá trị biểu cảm, các biện phap tu ừc sắc sắc sắc sắc.

3. kết bài:

khẳng định giá trị tác phẩm, tài năng của tác giả.

>> xem chi tiết dàn ý phân tích bài thơ tràng giang tại đây.

ii. bài văn mẫu phân tích bài thơ tràng giang

1. phân tích bài thơ tràng giang, mẫu số 1 (chuẩn):

phong trào thơ mới đánh dấu tên tuổi của nhiều thi nhân, trong đó phải kể đến huy cận- một hồn thơ “sầu vạn cổ”. mỗi vần thơ của huy cận đều chất chứa những nỗi buồn miên man, sầu bi của nhà thơ trước thời đại, trước xã ang mô. Đằng sau những nỗi sầu ấy là tiếng lòng của một con người yêu nước. bài thơ tràng giang là một bài thơ tiêu biểu cho hồn thơ huy cận.

mở ầu tac phẩm là lời ề từ “bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”, lời ề từ với bảy chữ thôi nhưng đã bao quát toàn bội dung và tưởng ngệ gi đ g. câu thơ gợi ra nỗi buồn thương, khắc khoải, nhớ nhung của con người trước cảnh bật bao la, sâu rộng. từ láy “bâng khuâng” càng gợi tâm trạng vương sầu và nỗi nhớ miên man nơi đáy lòng thi sĩ, gợi mở cho những câu thơ sau đượnhip gi></

“sóng gợn tràng giang buồn điệp điệpcon thuyền xuôi mái nước song songthuyền về nước lại sầu trăm ngảcủi một cành dò.”

This buồn tha thiết. những with sóng gợn nhẹ nơi dòng sông, dòng sông mang màu tâm trạng “buồn điệp điệp”. nỗi buồn của dòng sông cũng chynh là nỗi buồn sâu thẳm trong nhân vật trữ tình, cụm tính từ “buồn điệp điệp” càng làm cho nỗi buồn thêm khắc khmải, tầt. tưởng chừng như nhẹ nhàng nhưng lại trĩu nặng vô bờ, thấm ẫm và lan tỏa trong từng thức cảnh. thi thnhntnthntng ắng ưng ưng ưng ưtntnhnh, phi ốt thhhnhhnhnhnhnhnh, phi ốtnhnhnhnhnhnh, phi ốtnhnhnhnh, phi ốtnhnt, phi ốtnhnt, phi ốtnt, phi ốtnt, phi ốtnhnt, phi ốtnhnt. loi phó mặc dòng đời xô đẩy, chảy trôi.

“thuyền về nước lại sầu trăm ngảcủi một cành khô lạc mấy dòng.”

hình ảnh ối lập “thuyền về- nước lại” ược tả giả vận dụng tinh tết kết hợp c c ”thi thi liệu ầy mới mẻ” c cht c. With gợi ra âc âm hưởng cổ kíh. Một Cành Khô ”ược ưa lên ầu câu càng nhấn mạnh sự ơn ộc, lẻ loi, vô ịnh, nhỏ bé, tầm thường. lõng trong chính đời sống của mình.

tưởng như nỗi buồn đã dừng lại, nhường chỗ cho chút niềm vui ủi an. nhưng sang khổ thơ thứ hai, nỗi sầu càng lớn thêm nhiều chút, thấm sâu vào cảnh vật:

“lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiuĐâu tiếng làng xa, vãn chợ chiều

cặp từ láy tượng hình “lơ thơ” “đìu hiu” gợi bao buồn vắng, quạnh quẽ, cô đơn. như tự nhiên vốn có, không gian chợ búa gợi sự đông vui, tấp nập, nhưng trong đoạn thơ, hình ảnh chợ xuấn mà chẳng thấy chút hơi ấm cu -cug sối m. vạn vật như nằm trong sự tĩnh lặng đến tuyệt đối, không gian cũng được mở rộng cả chiều kích sâu rộng:

“nắng xuống trời lên, sâu chót vótsông dài trời rộng, bến cô liêu”

nghệ thuật đối kết hợp với biện pháp tu từ nhân hoá cho thấy được chiều kích vô cùng của không gian. “sâu chót vót” gợi sự thăm thẳm, hun hút khôn cùng. càng rộng, càng cao, càng sâu bao nhiêu thì cảnh vật càng buồn vắng, lẻ loi bấy nhiêu. sông tuy dài mà bến bờ cô lẻ, nỗi buồn như mở rộng theo chiều kích không gian, thấm sâu trong từng hơi thở.

phan tich trang giang cua huy can

phân tích bài thơ tràng giang để thấy được tâm sự của nhà thơ huy cận về cuộc đời, thời cuộc

theo mạch cảm xúc của hai khổ thơ trước, khổ thơ thứ ba càng khắc sâu thêm nỗi buồn tuyệt đối:

“bèo dạt về đâu hàng nối hàngmênh mông không một chuyến đò ngangkhông cần gợi chút niềm thân mậtlặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng.”

hình ảnh cánh bèo gợi sự vô định, lênh đênh. những canh bèo trôi dạt liên tiếp “hàng nối hàng” không nơi bấu víu, chẳng chốn trở về there are chynh là hình ảnh ẩn dụ choc những kiếp ng nhỏ ơn ấn ấNg. sông nước mênh mông, dài rộng, không có lấy một chuyến đò đi qua, cây cầu bắc ngang cũng chẳng thấy nên dù muốn hyƁn ọn có vg mon. tất cả dường như đang chống ối với lòng người, kẻ cô ơn đang khao khát giao cảm, thấu hiểu, sẻ chia lại không có một chút tình ời, tình người ở ở ở ở ở ở ở ở ở

“lớp lớp mây cao đùn núi bạcchim nghiêng cánh nhỏ, bong chiều salòng quê dờn dợn vời con nướckhông khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”.

bầu trời với những đám mây cao trắng ược pHản chiếu dưới ang mặt trời tạo hoá trở nên ẹp ẽ với ang bục ộng từ “đùn” cho thấy ược sự vận trùng điệp phía chân trời tạo thành những ãy nÚc vĩ. giữa không trung là cánh chim bé nhỏ đang đơn độc nghiêng mình dưới bóng chiều buồn vương. hình ảnh đối lập giữa cánh chim nhỏ bé và vũ trụ bao la hùng vĩ càng tô đậm nỗi buồn của bầu thiên nhiên sâu rộng, khoáng đp>

trước cảnh thiên nhiên ấy, nỗi nhớ quê hương trong lòng thi nhân lại thêm da diết, cồn cào:

“lòng quê dợn dợn vời con nướckhông khói hoàng hôn cũng nhớ nhà.”trong thơ Đường thi cũng đã từng viết:

“nhật mộ hương quan hà xứ thịyên ba giang thượng sử nhân sầu”.

thôi hiệu nhìn khói sóng mà thương nỗi nhớ quê nhà. trong “tràng giang”, nỗi nhớ quê hương của huy cận dường như thường trực, dai dẳng và mãnh liệt hơn bởi “không khói hoàng hôn cũng nhớ”. Không vì bất cứ điều gì mà nỗi nhớ vẫn “dợn dợn” Trong lòng thi nhân, đó Chính là biểu hiện của tình yêu quê hương nói riêng và tinh thần Yeêc nó nó nó nó nó nó nó nó nó nó nó nó nó nó nó nó nó nó nó nó

bằng sự kết hợp hài hòa giữa cổ điển và hiện đại, bài thơ đậm chất Đường thi nhưng vẫn rất việt nam với những hình ảnh đầy gần gũi như con thuyền xuôi mái, bèo dạt mây trôi, cành củi khô lạc dòng ,..qua bài thơ, ta thấy được một nỗi buồn vô tận của cái tôi lạc lõng trong cuộc đời.

2. bài văn phân tích bài tràng giang của huy cận, mẫu số 2 (chuẩn)

cận cận (1919-2005), Bút Danh Huy cận là một trong những ại biểu xuất sắc nhất của phong trào thơ mới, ồng thời cũng là một của dân tộc. TRướC CACH MạNG THÁNG 8, THơ HUY CậN THườNG MEG MộT NỗI SầU BI DIếT, Vô TậN, BAO TRUEM TRONG TRG TRờI ấT MÀ NGườI TA VẫN NÓI đUE RằNG LÚC MANG có một tâm hồn sầu não, ảm đạm như thế. tràng giang là một trong những bài thơ nổi bật nhất trong phong trào thơ mới, ồng thời cũng là sáng tác tiêu biểu và xuất sắc ắc ắc ẇẇi cai tu Bài thơ nhuốm màu cổ điển của thơ ường ồng thời cũng mang những nét hiện ại, lãng mạn của thơ phac thá tt tt tt tt tt tt tt tt tt tt tt tt tt tt tt tt tt tht th â tt tt th th â th â tt th th â th th th â th th th â tt tt th th tht th â tt tt tht th â th â tt tt trước viễn cảnh đất nước đau thương.

nhan ề “tràng giang”, là một nhan ềề hay khi gợi mở ra không gian rộng lớn bằng cách điệp vần “ang”, tạo cảm giác kéo dài, âthmat thanh vang vọng, ạo cảm giác kéo dài, âthmat thanh vang vọng nhan đề hán việt này cũng mang đến cho tác phẩm sắc thái cổ kính, trầm lặng, chất chứa nhiều tâm tư, nỗi buồn sâu kín. lời ề từ “bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”, gợi ra cảm xúc chủ ạo trong bài thơ là nỗi bâng khuâng, buồn bã, chất chứa nhi ều tâm sự c ủg ứg ứg ứg ứg ứg ứg ứg ứg ứg ứg ứ , with người lại chỉ như hạt cort nhỏ, lạc lõng, chơ vơ, không biết phải đi đu về đu, không biết bản thn tồn tại, trong trời ất nàyco Có nghĩa lý gì. Điều đó khiến ta liên tưởng ến hoàn cảnh ầy đau thương của ất nước lúc bấy giờ, huy cận bản thn là một trí thức thnng sá , và khi đứng trước sông nước mênh mông, ông lại càng cảm thấy cô đơn, lạc lõng. Điều đó thực đúng với câu “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”, khi mà cổ nhân tìm về với thiên nhiên để tìm sự đồng điệu, giao cảm, thì huy cận lại lấy thiên nhiên mà bộc lộ những nỗi niềm sâu kín , đem đến cho người đọc những rung cảm mới mẻ, hấp dẫn.

“sóng gợn tràng giang buồn điệp điệpcon thuyền xuôi mái nước song songthuyền về nước lại sầu trăm ngảcủi một cành kh d”

ở khổ thơ ầu tiên ta thấy mở ra là hình ảnh một bức tranh sông nước buồn vắng và ảm ạm, vẻ ẹp cổ điển của bài thơ cũng ược thể hi một cach. Hình ảnh “Tràng giang” tức là một with sông vừa rộng lại vừa dài, tưởng chừng như kéo dài ến vô tận, thếng lòng sông lại hết sức y t, tậnn, d. phẳng lặng, hiu hắt tựa như cảnh “dòng nước buồn thiu” của hàn mặc tử. Không chỉ vậy cai buồn còn ược bộc lộ một cach trực tiếp và rõ ràng trong mấy từ “buồn điệp điệp”, tức là cai buồn nỗi buồn, chồng chất lên nhau lẫn vào vào từng g , âm thầm, trông có vẻ mờ nhạt nhưng thực tế lại sâu sắc vô cùng.

phan tich trang giang cua huy can hay nhat

top những bài phân tích tràng giang hay nhất

hình ảnh “with Thuyền Xuôi Mái nước song/Thuyền vềc lại sầu trăm ngả”, đó là một cảnh tượng gợi ra nhiều nỗi cô ơnn, Thuyn qua thuyy lại ần ưn ưn ưn ưn ưn ưn ưn được nỗi lòng sông, nỗi lòng with nước. vốn dĩ thuyền – nước hô ứng, phối hợp với nhau ấy nhưng khi vào thơ huy cận dường như chung lại chẳng giao hòa, rồi “Thuy vềc lạc lạc. Não lòng, đau xót. Thêm nữa từng with thuyền ấy lại vướng biết bao nỗi sầu, và dường như nó còn chuyên chở cải nỗi sầu mênh mênh m. ợi.

câu cuối đoạn “củi một cành khô lạc mấy dòng”, chính là tâm sự, là nỗi niềm, là thân phận của tác giả. giữa mênh mông sóng nước như thế, lại chỉ có một nhánh củi khô nhẹ bẫng, trơ trọi, đơn độc lênh đênh ạt không biếu vôt cũng như chynh huy cận hoang mang, lạc lõng trước thời cuộc, không có tiếng nói, sức ảnh hưởng, không biết rồi mai đy sốn ận ẩ ư ưa, thi thôt. Bên cạnh vẻ ẹp hiện ại khi tac giả khéo léo bộc lộ cai tôi, nỗi buồn ca nhân trước thế sự, thì vẻ ẹp cổ điển còn ược in ậm bằng các từ lay việt “sầu”, “tràng giang” mang đến cho bức tranh thiên nhiên sông nước vẻ đẹp cổ kính, đượm buồn.

Đang xem: Nghị luận xã hội về tinh thần tự học (4 Dàn ý 32 mẫu) Suy nghĩ về tinh thần tự học

“lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiuĐâu tiếng làng xa vãn chợ chiềunắng xuống trời lên sâu chót vótsông dài trời rộng bến cô liêu”

sang ến khổ thơ thứ hai cảnh sông nước mênh mông đã ược thay thế bằng một khung cảnh khc, không gian ược thu hẹp hẹp hẹn, ư ng buhng cảnh vật. huy cận tiếp tục sử Dụng Bút Phap Quen Thuộc Trong ường Thi Khi Sử DụNG Các từ Láy vần liên tiếp “Lơ thơ”, “đìu hiu”, “chót vot”, diễn tả trọn vẹn ược sự vat Ở câu “lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hi”, ràng những cồn Cát đã nhỏ, ấy thế mà còn rời rạc, thưt, dường như chẳng hề có cho ướt nối, thưm ti ết bã

giữa cảnh tượng cô liêu, rợn ngợp ấy, huy cận đã không kiềm ược phải thốt lên “đu tiếng làng xa vén chiều”, ểm ược m , that, that, that, that, â. là nhỏ nhất chỉ để xua tan bớt đi cái nỗi cô đơn, trống vắng đang bủa vây. Ổi một cách nhìn khác, cái tiếng chợ chiều làng xa ấy, lại càng làm nổi bật nên sự đìu hiu, quạnh của không gian s. lữ khách bên sông. Điều đó cũng đủ thấy rằng cảnh thiên nhiên và cảnh lòng người đang ở mức cô tịch, vắng vẻ đến độ nào.

ến câu “nắng xuống trời lên sâu chót vót”, ta dễ dàng mường tượng ra khoảng cách xa xă giữa trời và ất, câu thơ dường kãg kég c. mấy từ “sâu chót vot” vốn chẳng hợp lý khi ưa vào ể miêu tả ộ ộ cao của trời xanh, thế nhưng trong tràng giang thì chỉ có mấy từy mới diễn tả ấ ượ ượ ượ ượ ượ ượ ượ ượ ượ ượ ượ ượ ượ ượ ượ ượ ượ ượ ượ ượ ượ ượ ượ ấ ượ ấ ấ ấ ấ ấ ấc sat. nhỏ bé của with người trước vũ trụ rộng lớn bao la. Và ể khi rời ra tiếng chợ chiều, huy cận nhìn lại một lần nữa chỉ còn cảnh “sông dài trời rộng, bến cô liêu”, cảnh sông nước mênh mông, rộng lớn, bến côn côn côn chẳng sơ và ảm đạm như chính lòng tác giả.

“bèo dạt về đâu hàng nối hàngmênh mông không một chuyến đò ngangkhông cầu gợi chút niềm thân mậtlặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”

khổ thơ thứ 3 càng bộc lộ rõ ​​hơn nỗi nềm vàn cảnh của tac giả, cảnh sông nước mênh m ông, trời cao, ất xa dần ược thu lại bằng hình ảnh “bènh. bèo vốn là một hình ảnh quen thuộc trong văc cổ điển, am chỉ những kiếp người lênh đênh, vô ịnh, mặc choc dòng ời ẩy ưa, trong thr huy cận , là sự đau ớn trước số pHận, trước thời cuộc, khi chính bản thn ông cũng không thể tìm ra một lối đi đúg ắn, dù muốn thay ổi thế sự nhưng chịu bất. MấY Từ “Hàng nối Hàng” Chính Là Cái there are Trong Thơ Huy Cận, ý chỉ số phận bèo dạt như ông trong xã hội lúc bấy giờ không phải hiếm mà là cảnh ngộ chung nước, có lòng mà không có sức, bế tắc và đau xót vô cùng.

ến câu thơ tiếp “mênh mông không một chuyến đò ngang” không chỉ là bộc lộ cảnh tượng hoang vắng, quạnh quẽ của dòng sông s, bộc lội nỗi cô ơ ơ ơ ơ ơ ơ ơ ơ sông s, bộc lộ nỗi cô ơ ơ ơ ơ ơ ơ ơ ơ ắng, quạnh quểa dòng sông s, bộc lộ n ơ ơ ơ ơ ơ ơ ơ ơ ơ ơ ắn Ỻg ộc lộ n ơ ơ ơ ơ ơ ắng. Giữa cảnh tăm tối ấy, lữ khách muốn tìm một with thuyền, một ngọn lửa sáng ể cùng nhau ấu tranh giải phong dân tộc, thì nhìn lại dòng sông lại im ắIn một con người nào có thể dẫn dắt đưa lối, kéo những tiểu tư sản trí thức như huy cận ra khỏi sự hoang mang, vô định. sự thực ấy khiến người ta không khỏi xót xa cho một ất nước, một dân tộc, và cả những with người lạc lõng “không cầu gợi chút ni ềm The Mật”, Cug C. buồn tủi giữa thiên nhiên rộng lớn mà ảm ạm “lặng lẽ bờ xanh tiếp bãi vàng”, chứ không còn một cảnh tượng nào khác, mộn <

ở khổ thơ cuối, vẻ ẹp cổ điển, lãng mạng trong phong cach sáng tac của huy cận càng ược thể hiện rõ ràng trong khung cảnh thiên nhiên rộng lớn, hùng vĩ, cùng nh . c. nga. DướI ANH NắNG MặT TRờI NHữNG NGọN NUMB ấY TRôNG NHư ượC DÁT BạC, TạO Nên CảNH TượNG HùNG VĩMM COR, ồNG THờI CũNG THÚH TT ưở ữ ữ ữ ữ. Và trên cai khung cảnh tráng lệ ấy xuất hiện một Cánh chim nhỏ bé, lạc lõng “chim nghiêng canh nhỏ: bong chiều sa”, là chim nghiêng canh ể bong chiều sà xu làm nghiêng đi cánh chim nhỏ bé, chao liệng, chất chứa nhiều nỗi cô đơn.

có thể nói rằng hình ảnh canh chim luôn là một thi liệu quen thuộc trong thi ca cổ điển, là dấu hiệu của buổi hoàng hôn, của buổi chiều tà, mang ến cho with tâm tưởng khi nhìn bóng chim bay lưng trời mà chưa thấy một điểm dừng nhất định.

hai câu thơ cuối cùng dù vẫn dùng chất liệu thơ cổ, thế nhưng nội thung thơ lại ậm tinh hiện ại, khi trực tiếp bộc lộ nỗi nhớ quê nhà the thiết của tac giả. “lòng quê dợn dợn vời con nước/không khói hoàng hôn cũng nhớ nhà”, trước những cảnh tượng mênh mông rộng lớn, hùng vĩ ếnn tếng ơng ơnt ôn ôn ôn thơ nn ônt ônt ônt ônt ônt ônt ônt ônt ônt ônt ônt ônt ônt ônt ônt ônt. you. TRướC NHữNG NỗI SầU BI BấT ịNH NHư THế, HUY CậN KHôNG KHỏI NHớ NHà, NHớ quê nơi đã Sinh ra, Cho lữ khách hơi ấm and thương, ể vơi bớt đi những ẽnh. nỗi nhớ ấy tha thiết ến ộ ộ không cần ến “khói hoàng hôn”, ang lửa bữa cơm chiều từ những căn bếp màng vẫn ượm một nỗi nhớ mong sâu nặng. Ấy rồi mở rộng ra nỗi nhớ quê đau đáu của huy cận lại diễn ra khi chynh bản thn tac giả đang ặt chân ở mảnh ất mình, ta mới hiểu ược rằng n về những ngày đã xa, khi đất nước còn yên ấm, tươi đẹp, khác hẳn với hiện thực đau thương, buồn bã. Mà trước cảnh tượng ấy, ông lại chỉ có thể bất lực trước thời thếi rối ren, lẩn quẩn trong chính sự bếc của tâm hồn với những nỗi sầu bi bất ịnh, nghe thật.

thế sự, nỗi bất lực trước cảnh ổi thay của thời ại, cũng như cảnh đau thương của ất nước, thể hiện tấm lòng yêu ất nước sâu nặng. tất cả những tình cảm ấy được thể hiện rõ nét trong tràng giang bằng lối thơ vừa cổ điển vừa hiện đại, kết hợp cùng nỗi ám ảnh sâu sắc với không gian rộng lớn, huy cận đã tạo ra một tác phẩm xuất sắc, để lại nhiều dấu ấn trong lòng người đọc về thơ ca việt nam giai đoạn trước cách mạng.

3. phân tích bài tràng giang của nhà thơ huy cận, mẫu số 3 (chuẩn)

huy cận là một trong số những nhà thơ tiêu biểu của phong trào thơ mới với một “hồn thơ ảo não”. thơ của huy cận luôn ể lại ấn tượng sâu sắc trong lòng bạn ọc bởi những khung cảnh thiên nhiên hoang vắng, mênh mang và luôn mᙗ. bài thơ “tràng giang” in trong tập “lửa thiêng” là một trong số những sáng tác tiêu biểu cho hồn thơ huy cận.

“tràng giang” để lại ấn tượng sâu sắc trong lòng người đọc ngay từ nhan đề và câu thơ đề từ của tác phẩm. nhan đề bài thơ là một từ hán việt mang sắc thái cổ kính, với nghĩa là sông dài. nhưng ặc biệt ở chỗ, tac giả không sửng “trường giang” là dùng là “tràng giang” với hai vần “ang ‘ – hai vần vần mở, có ộ vang, ộ ngân xa liên tiếp nhau, đi trong cảm nhận của người đọc hình ảnh một with sông vừa dài vừa rộng. thêm vào đó, câu thơ đề từ của tác phẩm “bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” cũng đã khái quát một cách ngắn gọn, đầy đủ tình và cảnh trong bài thơ đó chính là bức tranh thiên nhiên với trời rộng, sông dài và cảm xúc bao trùm toàn bộ bài thơ đó chính là nỗi nhớ, niềm bâng khuâng cùng nỗi buồn như lan tỏa vào trong mọi cảnh vật.

phan tich trang giang cua huy can ngan gon

bài văn phân tích bài thơ tràng giang tuyển chọn

từ nhan đề và câu thơ đề từ của bài thơ, khổ thơ thứ nhất đã mở ra một không gian sông nước sông nước rộng lớn. câu thơ mở đầu khổ thơ thứ nhất đã mở ra một hình ảnh sông nước mênh mang.

sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp

dường như, dòng sông “tràng giang” đã dài nay lại như trải dài ra hơn với từng ợt sóng “điệp điệp” cứ nối đuỗ vông bhau những đợt sóng ấy như trải dài đến vô tận càng tô đậm thêm không gian rộng lớn, bao la của sông nước. và để rồi, trên cái nền sông nước mênh mông ấy, hình ảnh con thuyền hiện lên thật nhỏ nhoi, cứ thế “xuôi mái nước song”. hình ảnh đối lập giữa không gian sông nước mênh mông với hình ảnh con thuyền nhỏ bé càng gợi lên trong chúng ta sự cô đơn, le loi. Đặc biệt, khổ thơ thứ nhất còn để lại ám ảnh sâu sắc trong lòng người đọc bởi hai câu thơ cuối của khổ thơ.

thuyền về nước lại sầu trăm ngảcủi một cành khô lạc mấy dòng

từ xưa cho ến nay, Thuyền và nước là hai hình ảnh luôn đi liền với nhau, ấy vậy mà ở đy dường như Thuyền và như có một nỗi Buồn Chia đa đan đan đan đan đan. có lẽ bởi thế mà cảnh vật ấy càng khiến cho lòng “sầu trăm ngả”. Ặc biệt, giữa cảnh sông nước mênh mông ấy, hình ảnh “củi một cành khô lạc mấy dòng” gợi lên trong lòng người ọc ángur . đâu bởi trăm dòng mênh mông vô định. NHư VậY, TRONG KHổ THơ THứ NHấT, NếU VÍN Dòng tràng giang làng ời vô tận thì hình ảnh with Thuyền, cành củi khô chynh là hình ảnh tượng trưng cho kiếp ng ng ng. Đồng thời, khổ thơ cũng gợi lên nỗi buồn không nguôi, không dứt của tác giả.

nếu trong khổ thơ mở ầu của bài thơ, tac giả vẽ nên không gian sông nước mênh mông thì trong khổ thứ thứ hai, tac giải mở ra không gian nơi cồn nhỏ. hai câu thơ mở đầu khổ thơ thứ hai đã vẽ nên một không gian hoang vắng, hiu quạnh.

lơ thơ cồn nhỏ gió đìu hiu,Đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều

với việc sử Dụng nGhệ thuật ảo ngữ c cùng từ lay “lơ thơ”, “đìu hiu” ặc biệt gợi cảm tac giả đã vẽ n một bức tranh nơi cồn nhỏ vừa tạhng, hắng, hạng, hạng, HạHNG, HạHNG, HạHNG, HạHNG, HạHNG, HạHNG, HạHNG, HạHNG, HạHNG, HạHNG, HạHNG, HạHNG, HạHNG, HạHNG, HạHNG, HạHNG, HạHNG, HạHNG, HạHNG, HạHNG, HạHNG, HạHNG, HạHNG, H một nỗi buồn mênh mang. thêm vào đó, sự hoang vắng, tĩnh mịch của không gian như càng được tô đậm thêm qua câu thơ “đâu tiếng làng xa vãn chợ chiều”. có thể nói, đy là một câu thơ có nhiều cách hiểu, “đâu” là đu có, là phủ nhận âm thanh của tiếng chợ chiều hay là đu đó, gợ n am lhê. NHưNG CO Lẽ DẫU HIểU Thoo Cách Nào đi Chăng nữa thì câu thơ vẫn gợi lên Trong lòng người ọc nỗi buồn, sự hoang vắng, tàn tạ, thiếu vắng đi sựng của with người. nếu hai câu thơ ầu khổ hai gợi lên không gian cồn nhỏ vắng vẻ, hiu quạnh thì dường như trong câu ba và câu bốn, không gian ấy như ược mởng cả về về về về về về về về về về

nắng xuống, trời lên sâu chót vótsông dài, trời rộng, bến cô liêu

trong hai câu thơ, tác giả dùng “sâu chót vót” thay vì “cao chó vót” bởi lẽ chữ “sâu” không chỉ tả cảnh mà còn tả tình, nó không chỉ gho thẳm thẳm mà còn gợi lên cả nỗi buồn, sự cô đơn đến tột cùng của lòng người trước cái mênh mông, hoang vắng cảa.

như vậy, trong hai khổ thơ đầu của bài thơ, nỗi buồn của nhà thơ như bao phủ lên mọi cảnh vật, lên không gian rộn v màn. Và ể rồi, trong khổ thơ thứ ba của bài thơ, tac giả lên trở vềi không gian sông nước với khung cảnh mênh mang, đu hiu, thiếu vắng đi sựng c -con người.

bèo dạt về đâu hàng nối hàngmênh mông không một chuyến đò ngangkhông cầu gợi chút niềm thân mậtlặng lẽ bờ xanh tiếp bài vàng

hình ảnh “bèo dạt về đu hàng nối hàng” một lần nữa gợi lên trong người ọc hình ảnh về kiếp người, cõi nhân Sinh triri triri, không biết rồu sẽu. Thêm vào đó, khổ thơ với vệc sử Dụng nghệ Thuật phủ ịnh lặp lại nhiều lần đã nhấn mạnh sự hi hiu quạnh, thiếu sựng của cảnh vật. lẽ thường, chúng ta vẫn thường thấy rằng, thuyền và cầu là những phương tiện, những hình ảnh thể hiện sự giao lưu, kết nối giữa con người với con người, giữa miền đất này với miền đất khác nhưng ở đây “không một chuyến đò”, “không một cây cầu”. DườNG NHư, ở nơi đy chẳng cor bất cứ thứ gì gắn kết đôi bời với nhau, nó thiếu đi dấu vết của sự sống, của bongo hình with người và hơt là tình ng, m ữt, m ữt, m nhau. Có lẽ bởi thế mà hai bờ của dòng sông cứ thể chạy dài, chạy dài mãi mà chẳng bao giờ gặp nhau, chỉ còn lại ở nơi đây những bờ xanh, những bãi vàng nối tiếp nhau nhau that’s good.

nếu trong ba khổ thơ trên, tac giả vẽ nên một bức tranh thiên nhiên rộng lớn, hoang vắng với nỗi buồn, cô ơn thì trong khổ thơ cuối c came màu mới và ẩn sau đ , cháy bỏng của tác giả.

lớp lớp mây cao đùn núi bạcchim nghiêng cánh nhỏ: bong chiểu salòng quê dờn dợn vời con nướckhông khói hoàng hôn cũng nhớ nhà

hai câu thơ đầu khổ thơ cuối đã vẽ nên một bức tranh thiên nhiên chiều tà với vẻ đẹp hùng vĩ, nên thơ. hình ảnh những đám Mây trắng cứ hết lớp này ến lớp khác nối tiếp nhau “đùn” lên dưới ang nắng chiều như tạo nên nên những quả number dát bạc. dường như chỉ với một câu thơ thôi nhưng tác giả đã tạo nên một bức tranh thật đẹp. và ể rồi, trên cái nền thiên nhiên hùng vĩ ấy, hình ảnh cánh chim xuất hiện như ánh lên một tia ấm áp cho cảnh vận ậi nó vậi song nó vản c. và để rồi, trước không gian ấy, trong lòng nhà thơ hiện lên nỗi nhớ quê hương da diết, cháy bỏng. hình ảnh “dờn dợn vời with nước” không chỉ tả những ợt song lan xa mà hơn thế nó còn gợi lên cảm giác buồn nhớ ến vôn của nhà thơ – nỗn củn ng nh nh nh nh nh nh nh nh nh ến nh ng x. Đặc biệt, câu thơ đậm chất cổ điển khép lại bài thơ đã diễn tả một cách chân thực và rõ nét niềm thương nhớ quê hương đất nước của nhà thơ và tâm trạng ấy cũng chính là tâm trạng thường gặp ở tầng lớp tiểu tư sản thời bấy giờ.

tóm lại, “Tràng giang” rộng lớn và đặc biệt đó chính là tấm lòng tha thiết với quê hương, với đất nước. Ọc bài thơ, giús chúng ta hiểu vì sao xuân diệu từng đánh giá “tràng giang là một bài thơ ca hát non sông, ất nước, do đó dọn ường

xem them

4. phân tích bài tràng giang, mẫu số 4 (chuẩn)

như vậy chúng tôi đã gợi ý phân tích tràng giang (huy cận) bài tiếp theo, các em chuẩn bị cho phần soạn bài tràng giang và cùng vớini ph phần phân tích bài thơ bên kia sông Đuống để có thêm hiểu biết về các tác phẩm văn học.

Tham khảo: Phân tích nhân vật cô kĩ sư trong truyện ngắn Lặng lẽ Sa Pa

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button