Giáo dục

Văn mẫu lớp 11: Phân tích khổ thơ đầu bài thơ Tràng giang của Huy Cận Sơ đồ tư duy & 12 bài phân tích khổ 1 Tràng Giang

phân tích khổ 1 bài tràng giang gồm dàn ý và 13 mẫu dưới đây không chỉ giúp các em lớp 11 có thêm những ý tưởng there nỗi buồn sâu lắng của tác giả trước khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ.

phân tích tràng giang khổ 1 chúng ta sẽ cảm nhận được nỗi buồn xuyên suốt cả đoạn thơ. tất cả các hình ảnh được nhắc đến mặc dù gần gũi nhưng lại hiện lên rất buồn và không có sức sống dưòi cny c. bởi vì, tâm hồn đang ẩn chứa nỗi buồn nên thơ văn và cảnh vật hiện lên trông rất ảm đạm. vậy dưới đây là 13 bài văn phân tích khổ 1 tràng giang siêu hay, mời các bạn cùng đón đọc nhé.

Xem thêm: Phân tích khổ 1 tràng giang

dàn ý phân tích khổ 1 tràng giang

dàn ý số 1

i. mở bài:

  • giới thiệu về tác giả huy cận và tác phẩm tràng giang
  • khổ thơ đầu mở ra nỗi sầu nhân thế của tác giả với không gian thiên nhiên bất tận.
  • ii. thanks bài:

    *hoàn cảnh sáng tác bài thơ

    – khi tác giả đứng trước sông hồng vào một chiều thu năm 1939, khi tròn hai mươi tuổi, ở bờ nam bến chèm, cùng nỗi sầu vô t trong

    *giá trị nội manure

  • nỗi buồn, cô đơn, sầu muộn vô cùng của con người trước thiên nhiên bao la.
  • => tac giả thể hiềm khao khát ược hòa nhập với with người, với thiên nhiên, kín đao ặt trong đó tình yêu ất nước (khi with ng ường gi ữa qu .y = & gt; cảm x /p>

    *giá trị nghệ thuật:

    • Bài thơ ược kết hợp giữa lối thơ cổ điển và hiện ại, thể thất ngôn, chất thơ ường nhưng ược kết hợp với cai tôi của thơ mới.
    • hình ảnh được gợi lên trong thơ vô cùng trong sáng, giàu xúc cảm.
    • Chất thơ ường thấm ượm từ nhan ề, thể thơ, thi tứ (sự lẻ loi của with người trước tạo vật, vũ trụ trụ to lớn), cc Bút Phapp nghệ Thuật như ối ngẫu, Song ố ố ố

      * phân tích khổ 1:

      – tac giả ứng trên bờ sông nhìn xuống dòng nước mênh mông của sông hồng, tạo nên những hình ảnh vừa chân thực lại vôn cùng giàu sức gợi.

    • > nỗi buồn chập chùng trong lòng người thi sĩ.

    • hai từ “tràng giang”: là từ hán việt, với hai âm “ang” tạo nên tiếng vọng cho câu thơ, vừa gợi lên một dòng sông dài rộng và cổ kính.
    • từ láy “điệp điệp”: những con sóng cứ nối nhau liên tiếp =>nỗi buồn miên man, không nguôi trong lòng tác giả, một nỗi buồ> c.
    • c.

      – một with thuyền xuất hiện giữa dòng nước mênh mông

      + con thuyền không đảo chèo, ngược sóng mà buông thõng mái chèo, “xuôi mái”, thụ động, mặc dòng nước đưa đẩy.

      => with thuyền xuất hiện thật nhỏ bé giữa dòng sông, lênh đênh và vô định.

      => nghệ thuật ối “điệp điệp -song song”: gợi lên nỗi buồn nhân thế đang lan trong tâm hồn huy cận, chynh ông cũng như with thuys kia, bơ vơ g. .

      – hình ảnh “thuyền về … ngả”:

      • hình ảnh thường xuất hiện trong thơ văn
      • thuyền và nước tưởng gặp nhau, hứa hẹn cùng nhau nhưng ở đây, sự gặp gỡ chỉ là phút chốc, để rồi.Ậa chia lô
      • hình ảnh “thuyền về nước lại”: gợi lên cảnh chia li, xa cách.
      • “sầu trăm ngả”: mối sầu muôn dặm, to lớn, rộng khắp.
      • – hình ảnh “củi …mấy dòng”:

      • nhấn mạnh sự nhỏ bé, đơn độc của một cành củi nhỏ giữa sóng nước bao la.
      • “cành củi khô”: gợi lên sự khô héo, không còn sức sống lại ít ỏi
      • “Mấy dòng”: vừa gợi lên cảnh sông nước mênh mông, vừa gợi lên hình ảnh của dòng ời, vô số bước ường đi nhưng không biến hướng nào nào nào nào m.

        =>một cành củi khô lạc lõng giữa dòng nước mênh mông => with người bơ vơ giữa cuộc đời, mang trong mình nỗi sầu muộn không nguôi.

        – tác giả đã sử dụng hiệu quả những phép ối trong khổ thơ (buồn điệp điệp- nước song, sầu trăm ngả- ògtlá = cest d cc ấy) tạo nên sự tương phản lớn giữa cá thể lẻ loi, cô đơn với vũ trụ mênh mông.

        *kết luận chung:

        • khổ thơ gợi lên nỗi buồn sâu lắng của tac giảcc khung cảnh thiên nhiên hùng vĩ, gợi lên sự chia ly, xa cach giữa những with người, không có có sựn n. mạnh nỗi buồn về kiếp người nhỏ bé, lênh đênh, vô định trước cuộc đời.
        • nghệ thuật: huy cận đặc biệt sử dụng thành công các hình ảnh gợi tả, cách gieo vần nhịp nhàng.
        • iii. kết bài:

          – khẳng định lại ý nghĩa của khổ thơ.

          dàn ý số 2

          1. mở bài

          • giới thiệu về tác giả huy cận và bài thơ tràng giang.
          • dẫn dắt vào vấn đề: khổ thơ thứ nhất trong bài tràng giang.
          • 2. thanks bài

            a. khai quát chung

            – với nhan đề, nhà thơ đã khéo gợi lên một vẻ đẹp cổ điển lại hiện đại:

            – “tràng giang” gợi hình ảnh một with sông dài, rộng lớn.

            • tác giả đã sử dụng từ hán việt để gợi không khí cổ kính trang nghiêm. tac giả còn sửng từ biến âm “tràng giang” thay cho “trường giang”, hai âm “ang” đi liền nhau đã gợi lên trong người ọc cảm giác về with sông, không chỉ dài vô vông màng mà còn rộng m. bat ngát.
            • câu thơ đề từ “bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài” gợi nỗi buồn sâu lắng trong lòng người đọc. Đồng thời cho người đọc thấy rõ hơn cảm xúc chủ đạo của tác giả xuyên suốt tác phẩm. Đó là tâm trạng “bâng khuâng”; nỗi buồn mênh mang, không rõ nguyên cớ nhưng da diết, khôn nguôi. Đó con là không gian rộng lớn “trời rộng sông dài” khiến hình ảnh con người càng trở nên nhỏ bé, lẻ loi, tội nghiệp.
            • b. phân tích khổ thơ thứ nhất của bài

              • Song Gợn Tràng Giang Buồn điệp điệp: “Gợn” Gợi nỗi Buồn Của with Song, Giữa Dòng Sông Rộng Lớn, Làn Sónng Buông Trôi Lững Lờ Từn LĂn Tản T. nỗi buồn trùng điệp, man mác lòng người thi sĩ.
              • With Thuyền Xuôi Mái NướC Song Song: Giữa Dòng tràng giang rộng lớn đó là hình ảnh một with Thuyền trôi lững lờ nước thành hai ường thẳng song tĩnh mịch này thì đó dường như là điều không thể.
              • Thuyền về nước lại sầu trăm ngả: khi with thuyền trôi đi xa, ường thẳng song bị tách lại trở về như cũ, nối lại thành một, mặt nước lại thẳm, dù có cooc cooc co -co -co -co -co. li>
              • củi một cành khô lạc mấy dòng: ảo ngữ (ảo vị trí các thành phần chủn ngữ với nhau: một cành củi khô → củi một cành khô) dòng sông rộng lớn không biết đi đâu về đâu giống như tâm trạng của con người lúc bấy giờ khi đất nước đang bị quân gi>ỷ quân gi>

                3. kết bài

                • nêu nhận xét, cảm nhận khái quát về khổ thơ thứ ba
                • mở rộng vấn đề bằng suy nghĩ và liên tưởng của mỗi cá nhân
                • sơ đồ tư duy phân tích khổ 1 tràng giang

                  phân tích khổ đầu tràng giang – mẫu 1

                  huy cận được mọi người biết đến là nhà thơ của phong trào thơ mới. các tác phẩm của ông hầu như ca ngợi về vẻ đẹp của thiên nhiên nhưng lại chất chứa nỗi sầu của thế gian. trong tất cả các tác phẩm from him, tràng giang được đánh giá cao về nội dung lẫn nghệ thuật.

                  bài thơ được ông sáng tác vào năm 1939 khi đứng ở bờ nam bến chèm và ngắm sông hồng. có thể nói, chính cảnh vật nơi đây đã khơi gợi nguồn cảm hứng bất tận trong ông.

                  khổ 1 tuy chỉ có vài câu ngắn gọn nhưng đã thể hiện rõ được bức tranh sông nước mênh mông cùng với tâm tình của ngthi>s.

                  sóng gợn tràng giang buồn điệp điệpcon thuyền xuôi mái nước song song

                  bài thơ mở đầu bằng những câu thơ đậm chất cổ thi. cảnh vật thiên nhiên được khắc họa qua tâm hồn của người thi sĩ trở nên mới lạ và độc đáo hơn. bức tranh thủy mặc hiện lên vô cùng đẹp với hình ảnh sóng gợn và thuyền xuôi. with sóng chỉ gợn nhẹ nhưng cứ “điệp điệp” mãi không thôi. nhờ sóng mà with thuyền cứ mãi xuôi theo dòng nước. trong 2 câu thơ này, tác giả còn sử dụng từ láy để làm gia tăng nhịp điệu cho lời thơ. cách dùng từ của nhà thơ khá độc đáo mang đến điểm mới trong văn chương.

                  bức tranh sông nước hiện lên vô cùng đẹp qua lời thơ của tác giả. thế nhưng, tâm hồn con người lại ẩn chứa nỗi buồn sâu lắng. do sự tác động ấy mà khi đọc hai câu thơ đầu, chúng ta sẽ cảm nhận được nỗi buồn man mác được thể hiện qua từ ngữ. sông nước mênh mông là thế nhưng con người mãi chỉ là sinh vật nhỏ bé chẳng giữa đất trời.

                  thuyền về nước lại sầu trăm ngảcủi một cành khô lạc mấy dòng

                  hình ảnh thuyền và nước sau khi được song song với nhau thì lại bị tách ra. Đây chính là sự xa cách giữa muôn trùng khơi. hình ảnh ấy đã được nhân hóa khiến để gia tăng cảm xúc. cụm từ “sầu trăm ngả” đã mang đến cho người đọc cảm giác buồn vô tận. nỗi buồn ấy dường như đã lan tỏa ra khắp không gian. Đọc câu thơ, chúng ta sẽ hình dung được cảnh con thuyền lênh đênh vô tận giữa dòng nước bao la. hình ảnh thuyền và sông đối lập nhau đã làm rõ rệt hơn nỗi buồn da diết của người thi sĩ.

                  chưa dừng lại ở đó, nhà thơ còn sử dụng hình ảnh “củi khô” điểm xuyết vào khung cảnh sông nước ấy. chính yếu tố này đã khiến cho sự lẻ loi của con người giữa trời đất rộng lớn. cành củi còn bị “khô” thể hiện sự thiếu sức sống của with người. Ặc biệt, tac giả còn sử dụng pHép ảo ngữ chụm từ “củi một cành khô” c cùng với nhịp thơ 1/3/3 ể nhấn mạnh thânn phận with người bịi vùi di -dập. Đứng trước khung cảnh ấy, người thi sĩ cảm thấy nỗi buồn man mác. Ông buồn cho thân phận của with người, nghĩ về dòng đời lênh đênh, trôi nổi. kiếp người vốn có nhiều sự thay đổi nhưng chẳng ai biết trước được điều gì. with người luôn cô độc, lẻ loi và chơi vơi giữa dòng đời mà chẳng biết đi về đâu.

                  nỗi buồn của thi sĩ khi đứng trước dòng đời bao la

                  qua khổ thơ 1 bài tràng giang, chúng ta đã phần nào thấy rõ được sự kết hợp nhuần nhuyễn của nhà thơ giữa bút pháp hiệi. nhờ đó mà lời thơ gần gũi nhưng vẫn tác động mạnh mẽ vào lòng người đọc. thêm vào đó là cách đặt nhan đề độc đáo theo kiểu tả cảnh ngụ tình.

                  thêm vào đó, sự xuất hiện của những từ láy trong khổ 1 còn mang lại nhiều giá trị biểu cảm. thông qua đó, chúng ta sẽ cảm nhận được sự heo hút và mênh mông của dòng sông hồng và sự nhỏ bé của con người trong khung cảnh.

                  ấy.

                  ngoài ra, huy cận còn thành công trong việc sử dụng hình ảnh độc đáo. có thể bạn chẳng thể bắt gặp được hình ảnh “củi một cành khô” trong thơ văn việt nam. chính sự mới mẻ này đã tạo nên điểm nhấn ấn tượng nâng cao giá trị của tác phẩm.

                  phân tích khổ 1 bài tràng giang, chúng ta sẽ cảm nhận được nỗi buồn xuyên suốt cả đoạn. tất cả các hình ảnh được nhắc đến mặc dù gần gũi nhưng lại hiện lên rất buồn và không có sức sống dưòi cny c. bởi vì, tâm hồn đang ẩn chứa nỗi buồn nên thơ văn và cảnh vật hiện lên trông rất ảm đạm.

                  phân tích bài tràng giang khổ 1 – mẫu 2

                  huy cận ông thuộc thế hệ của những nhà thơ nổi tiểng trong phong trào thơ mới.thơ huy cận ược nhiều người nhận xétth mang bun.thơ huy cận sáng tac tac bài th r huy cận. khổ thơ ầu tiên trong bài thơ miêu tả cảnh sông nước của dòng sông hồng, qua đó bộc lộ nỗi buồn của người thi sĩn Ẫn khhung cố

                  “sóng gợn tràng giang buồn điệp điệpcon thuyền xuôi mái nước song songthuyền về nước lại sầu trăm ngảcủi một cành kh d”

                  những câu thơ mở đầu đầy cảm xúc thể hiển nỗi buồn của thi sĩ trước khung cảnh thiên nhiên rộng lớn. Đọc câu thơ người đọc sẽ mường tượng ra cảnh con sông rộng lớn không chỉ dài mà còn sâu. cụm từ “tràng giang” cho thấy được dòng sông dài vô tận. cụm từ “điệp điệp” thể hiện được quy luật thiên nhiên sóng sau xô sóng trước tràn vào bờ. những câu thơ ầu tiên là nỗi buồn, đa sầu đa cảm của thi nhân, những with song như ược nhn Hóa lên thành nỗi buồn của củng with ng àng ếtn -bồtn -bồtn -bồtht thột thột có dấu hiệu chấm dứt.

                  giữa con sông đó xuất hiện con thuyền, hình ảnh thực sự đối lập nhau giữa thiên nhiên bao la và con thuyền lại nhỏ bé. “With Thuyền” Chính là hình ảnh tả thực, dưới góc ộ của tac giả nhìn with Thuyền như thân phận nhỏ bé, nổi trôi của kiếp người lênh trên sêng nước ce. tác giả sử dụng hình ảnh con thuyền cổ điển trong thơ ca kết hợp với điệp từ “song song” mang lại nỗi buồn sâu thẳm.

                  câu thơ thứ 3 trong khổ thơ đầu còn mang lại cảm giác chia lìa cho người đọc. thuyền và nước hai hình ảnh gắn bó khăn khít với nhau nhưng giờ đây phải xa cách. hình ảnh nước trong câu thơ ám chỉ con người, nước cũng cảm xúc biết “sầu” buồn. cụm từ “sầu trìm ngả” gợi cho ta cảm giác nỗi bomn trải dài khắp không gian trăm ngả.con thuyền cứ mãi lênh đênh ể lại dòng nước lặng im thăm Thẳm.

                  câu thơ cuối trong khổ thơ đầu tác giả mang đến cho người đọc hình ảnh lạ, lạ so với các nhà thơ khác đó là hình “ảnh”. câu thơ cuối mang giá trị gợi hình cao, chiếc củi khô thiếu sức sống và nhỏ bé đang trôi trên sông cô đơn, lạc lõng. cụm từ “lạc mấy dòng” như muốn nói cành củi khô vốn bé nhỏ lại bị chia rẽ khắp mấy dòng sông. nhà thơ đã dùng nghệ thuật ảo ngữ, ông không viết “một cành củi khô” mà viết “củi một cành khô” cùng nhịp thơ 1/3/3 khác hẳn với ba câu thơ thơ trên như m. cũng như thân phận nhỏ nhoi bị vùi dập lênh đênh trên dòng đời không biết bến bờ.

                  tràng giang một bài thơ có mở ầu rất buồn, cảm xúc, các hình ảnh thiên nhiên dưới góc nhìn tác giả ều không có sức sống, cũng nh ưnh ếng ếng ếng ếng ếng ếng ếng ếng ếng ếng ếng ếng ếng ếng ếng ếng ếng ếng ếng ếng ếng, c. .

                  phân tích tràng giang khổ 1 – mẫu 3

                  Bài Thơ “Tràng Giang” ượC Viết Trong Thời kì trước cach mạng với một nỗi niềm chất chứa u buồn, gợi lên sự bếc tắc trong cuộc sống của kiếp người trôi nổi nổi lênh đênh. bài thơ đã để lại trong lòng người đọc nhiều nỗi niềm khó tả.

                  tràng giang không chỉ là một bài thơ hay của huy cận mà con là một trong những bài thơ tiêu biểu của phong trào thơ mới. Đôi khi người ta thường hiểu tràng giangg là một bài thơ miêu tả phong cảnh quê hương ất nước, thển tình yêu quê hương ất nước, nhưng đúng hhn đn là là bôn ơn nn ỗn nn ỗn nn ỗn nn ỗn nn ỗn nn ỗn nn ỗn nn ỗn nn. what a hương minh.

                  tràng giang en trong tập lửa thiêng của huy cận, xuất bản năm 19 đúng như nhà thơ huy cận từng nói, bài thơ này ược sông hồng, quema v. nhưng nó là bài thơ nói về nỗi buồn thế hệ, nỗi buồn không tìm được lối ra, nên như kéo dài triền miên. Điều đó được thể hiện rất rõ qua khổ thơ đầu.

                  trước hết ta chú ý đầu đề bài thơ là tràng giang chứ không phải “trường giang”, để ta không lầm với sông trường giang (trung quố) trong tiếng việt “tràng giang” thường nằm trong thenh ngữ “tràng giang ại hải”, chỉ một hiện tượng mênh m m mng bất tận mà trống rỗng khiến ng.

                  mở đầu bài thơ đúng là một cảnh sông nước mênh mông bất tận:

                  sóng gợn tràng giang buồn điệp điệpcon thuyền xuôi mái nước song songthuyền về, nước lại sầu trăm ngảcủi một cành.

                  p

                  ngay câu ầu bài thơ không chỉ nói sông, mài nói buồn, nói về một nỗi buồn bất tận, bằng một hình ảnh ẩn dụ: Song gợn tràng giang buồn đp đp đp ồp ồp ồp ồp giữa tràng giang mà điểm nhìn nhà thơ tụ vào with sóng nhỏ, tuy rất nhiều, nhưng hiện ra rồi tan, muôn thuở. With Thuyền Thường là hình ảnh tượng trưng ch cuộc ời lênh đênh, cô ơn, vô ịnh, ở đây with Thuyền Buông Mái Chèo Xuôi Dòng NướC, NHưNG Thuyền và nước chỉc chỉc chỉc chỉc chỉc nước xuôi trăm ngả, thuyền theo ngã nào? thuyền đi với dòng để rồi chia li với dòng. câu thứ ba đã nói tới sự chia li. “thuyền về nước lại sầu trăm ngả”. thuyền buồn vì phải rẽ dòng. nước buồn như không biết trôi về đâu. câu cuối đoạn này càng thể hiện tập trung cho kiếp người nhỏ nhoi, lạc lõng, vô định: “củi một cành khô lạc mấy dòng”. cái nhìn của nhà thơ vẫn tập trung vào các vật nhỏ: song, thuyền, củi khô.

                  tác giả lưu ý, không phải là cây gỗ, mà chỉ là “củi một cành khô”, một mảnh rơi gãy, khô xác của thân cây.

                  cả khổ thơ đầu đã vẽ lên một không gian sông nước bao la, vô định, rời rạc, hờ hững. những ường net: nước song song, buồn điệp điệp, sầu trăm ngả, lạc mấy dòng không hứa hẹn gì về hội tụ, gặp gỡ mà, tan ặp gỡ mà. trên with sông đó một with thuyền, một nhánh củi lênh đênh càng tỏ ra nhỏ nhoi, bất lực. Ở đây không chỉ thuyền buồm, cành củi khô buồn, mà cả sóng gợn, sông nước đều buồn.

                  phân tích khổ 1 tràng giang – mẫu 4

                  nhà thơ huy cận tên thật là cù huy cận. nhắc ến thơ của ông, người ta có thể nhớ ngay ến chất thơ chất chứa những nỗi sầu nhân thế và lòng ngẻi ca᪺nthi ca᪺nthi TRướC CACH MạNG THÁNG TAMM, Tên TUổI CủA ôNG GắN LIềN VớI RấT NHIềU TAC PHẩM TIêU BIểU NHư: “LửA THIêNG”, “Vũ TRụ CA”, … Bài Thơ Thơ Thơ Thơtntng “Lửt” Lg NH ” this this this. Thơ tiêu biểu bậc nhất của huy cận. bài thơ mang dòng chảy cảm xúccc cor pet or buồn m they nhất đã cuốn hút ngay người đọc theo tâm hồn thơ của tác giả rất độc đáo.

                  ngay từ nhan đề, nhà thơ đã khéo léo gợi lên vẻ đẹp thiên nhiên hùng vĩ của thiên nhiên, kéo theo cả tâm trạng của lòng ng. with sông hồng dài rộng bát ngát, uốn quanh bao trọn cả non sông việt nam. chẳng phải ngẫu nhiên mà tác giả lại sử dụng “tràng” thay vì từ “trường”. Âm “ang” mang mới cho người đọc mường tượng được bề ngoài rộng lớn của with sống kia. Ấy không chỉ là con sông của tạo hóa làm nên, mà tác giả còn muốn nhắc tới dòng sông của ời người, dòng sông chất chứt ứa bat. <.

                  có biết bao thi sĩ nhà thơ đã mượn thiên nhiên để giải bày lòng mình. nỗi buồn của con người thì vô vàn biết bao: buồn tình yêu, buồn tình bạn, buồn chốn sự nghiệp, còn nỗi buồn cứoƻng cứoƻng. buồn vì ta chưa thể tìm ra with đường đi cho cuộc đời, cho kiếp người cô đơn nhỏ bé trước vũ trụ bao la. Đó cũng là vẻ đẹp đầy sức quyến rũ của tác phẩm ẩn chứa một tinh thần hiện đại.

                  ngay từ đầu bài thơ, độc giả đã bắt gặp những con sóng đầy tâm tư:

                  “sóng gợn tràng giang buồn điệp điệpcon thuyền xuôi mái nước song song”

                  strong thơ xuân quỳnh, bà cũng dùng hình ảnh của sóng để diễn tả nỗi buồn của thuyền và biển. dường như “sóng” là gia vị hay chất xúc tác dẫn đến những cung bậc cảm xúc của đời người. hai từ láy “điệp điệp”, “song song” ở cuối câu thơ mang hơi hướng cổ kính của Đường thi. nó khiến cho tâm trạng người đọc cũng trải dài, mênh mang theo dòng chảy của con sông dài vạn dặm ấy. những with sóng gối đầu lên nhau, loang xa, dập dềnh theo dòng nước. mặc cho dòng nước chảy về nơi nào, sóng cứ vỗ về mênh mang. trên dòng sông ấy, độc cô “with thuyền” xuôi theo dòng nước, tựa như sự buông thả, bất cần chẳng cần quan tâm tới điỿm Cari tài viết thơ của huy cận thật đáng ngưỡng mộ, bằng từ ngữ thơ ông lại lột tả nên sự chuyển ộng của “sone”, của “thuyền”, nhưng lại khi khi ng cô độc trước thiên nhiên.

                  tiếp nối dòng chảy cảm xúc ấy, huy cận đã viết:

                  Đang xem: 100 tên hay cho con trai vần C kèm tên đệm đẹp & nam tính

                  “thuyền về nước lại sầu trăm ngảcủi một cành khô lạc mấy dòng”

                  mới đây thôi ta còn nhìn thấy thuyền xuôi theo dòng nước. theo lẽ đời, thuyền và nước nào có thể tách rời, thuyền đi đâu về đâu là nhờ có nước xuôi dòng, vỗ về. thế mà huy cận lại cảm nhận được thuyền và nước đang cách xa, không chung đường. từ “lại” khiến cho câu thơ nghe có chút tiếc nuối, nhớ mong xót xa. chính vì lẽ đó là khiến cho lòng người không tránh khỏi cảm giác “sầu” bi. nhà thơ sử dụng cả từ chỉ lượng “trăm” để đong đếm cho nỗi tiếc thương vô hạn ấy. cho đời biết rằng ta chẳng bao giờ entre cho giờ phút thuyền và nước phải chia lìa.

                  tâm hồn của chủ thể trữ tình được bộc lộ đầy đủ, khéo léo nhất qua câu thơ:

                  “củi một cành khô lạc mấy dòng”

                  một con thuyền, một cành củi khô đã càng làm nổi bật lên nỗi cô đơn lạc lõng. tựa như chỉ có mình nhà thơ đang đối diện với vũ trụ thiên nhiên kia. nhưng cành củi ấy lại khô héo, thiếu sự sống biết nhường nào. nó chẳng giống như cảnh vật tràn đầy sức sống của “một bông hoa tím biếc” của thanh hải trong bài “mùa xuân nho nhỏ”-. “Cành Khô” ấy mang nỗi sầu vô ịnh của thi nhân, chỉ có thể trôi nổi, bập bềnh theo dòng nước mênh mang mà chẳng có mộn hng ị cành củi ấy trôi đi đi đi bình yên cũng chẳng ai có thể rõ. hình ảnh giản dị mà sao khiến cho lòng người đọc cảm thấy trống rỗng, cô liêu.

                  tài năng “tả cảnh ngụ tình “của huy cận thật tài hoa, khéo léo. Chỉ Thông qua những hình ảnh giản ơn, “with song”, “chiếc thuyền”, “cành khô” mà ta dễ dàng bắt gặp trong biết bao bài thơ khác, nhưng trong thơ của huy cảm xúc rất riêng không thể hòa lẫn vào vào các bài thơ xưa. vẻ đẹp hiệa tác giả sẽ mãi đi sâu vào lòng người.

                  phân tích khổ 1 tràng giang – mẫu 5

                  “chàng huy cận khi xưa hay sầu lắmnỗi nhớ nhung không biết đã vơi chưahay lòng chàng vẫn tủi nắng sầu mưacùng đất nướng n

                  huy cận là một trong những nhà thơ nổi bật trong phong trào thơ mới. Đúng như những nhận xét của xuân diệu, trước cach mạng thơ huy cận thường mang ậm nỗi buồn sâu thẳm, nỗi buồn nhân thẳm, nỗi buồn nhân thẳm. huy cận đã có rất nhiều sáng tác thể hiện nỗi buồn. tràng giang là một trong những tác phẩm hay điển hình cho hồn thơ huy cận một thời. khổ thơ ầu bài thơ đã miêu tả xuất sắc cảnh sông nước mênh mang, heo hút của sông hồng, ồng thời thể hiện nỗi buồn của người thi sĩc không gian vôn.

                  “sóng gợn tràng giang buồn điệp điệpcon thuyền suôi mái nước song songthuyền về nước lại sầu trăm ngảcủi một cành dạ m/òp>

                  bài thơ tràng giang được huy cận sáng tác vào một chiều thu, ông đứng ở bến nhìn ra cảnh sông hồng rộng lớn. mở đầu đoạn thơ, nhà thơ đã mang hình ảnh sóng nước sông hồng buồn man mác vào tác phẩm:

                  “sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp”

                  Đọc câu thơ người đọc hình dung ra một con sông mênh mang sóng nước. cụm từ “tràng giang” cho thấy một dòng sông dài vô tận. nhà thơ không dùng “trường giang” mà dùng từ “tràng giang” khiến cho dòng sông không chỉ có chiều dài mà còn có chiều sâu. cụm từ “điệp điệp” cho thấy những đợt sóng cứ dập dồn, liên tiếp xô nhau vào bờ. qua cái nhìn đa sầu đa cảm của thi nhân, từng đợt sóng được nhân hóa lên như with người, cũng biết “buồn điệp điệp”. từng đợt sóng gợn trên sông của hình ảnh thật ấy cũng như những nỗi buồn đang trải dài vô tận. từ láy “điệp điệp” càng nhấn mạnh nỗi buồn hết lớp này đến lớp khác, nỗi niềm mang nhiều tâm sự của nhà.

                  trên with sông dài, không gian rộng lớn ấy, xuất hiện một with thuyền nhỏ bé:

                  “with thuyền xuôi mái nước song song”

                  hình ảnh đối lập giữa cái bao la, mênh mông của sông nước với con thuyền nhỏ lênh đênh giữa dòng càng gợi lên nh cự con. “With Thuyền” là hình ảnh tả thực nhưng dưới cai nhìn của cai tôi lãng mạn thì with thuyền cũng chỉng những thân phận nhỏ bé, nổi trôi của kiếp người. hình ảnh con thuyền và dòng sông vốn đã xuất hiện nhiều trong thơ ca từ cổ chí kim. cách sử dụng hình ảnh cổ điển trong thơ cùng điệp từ “song song” càng gợi lên nỗi buồn xa vắng. Sử DụNG NGHệ Thuật tiểu ối trong ngôn từ “buồn điệp điệp” ối với cụm từ “nước song” tạo cho hai che thơ nhịp thơ nhịp nhàng, cho rãi như ng “ti ế ng”

                  Đoạn thơ không chỉ gợi lên nỗi buồn mà con gợi lên sự chia lìa vô định:

                  “thuyền về nước lại sầu trăm ngả”

                  thuyền và nước thường đi liền với nhau, nhưng ý thơ ở đây lại mang đến một sự xa cách giữa thuyền và nước. hình ảnh nước trong câu thơ được nhạn hóa như con người, cũng có cảm xúc, cùng biết “sầu” buồn. cụm từ “sầu trăm ngả” gợi cho ta cảm giác một nỗi buồn vô tận, trải dài khắp không gian trăm ngả. Đọc câu thơ, người đọc hình dung được một con thuyền lênh đênh cứ trôi nổi xa tít, để mặc dòng nước mẽt mê>n

                  bên cạnh những hình ảnh thu thc trong thơ xưa như song nước, with sông, with Thuyền thì cuối đoạn thơ, nhà thơ lại mang ến một hình ảnh và ýc ộc ặc ặc ặc ặc ặc ặc ặc

                  “củi một cành khô lạc mấy dòng”

                  “củi khô” là môt hình ảnh hiện đại trong thơ huy cận, hiếm khi ta bắt gặp một hình ảnh như thế trong thơ ca. câu thơ giàu giá trị gợi hình, mang đến một hình ảnh chiếc củi khô nhỏ nhoi đang lạc lõng. cành củi vốn đã tạo một cảm giác bé nhỏ, tầm thường lại còn “khô” càng mang đến một ý nghĩa thiếu sức sống. cụm từ “lạc mấy dòng” mang ý nGhĩa có chiều sâu, một cành củi khô đã vốn qua bé nhỏ lại bị qu qăt quật khắp mấy dòng c.ng sông nhà thơ đã dùng nghệ thu khô” mà lại viết “củi một cành khô” c c cuar củi cũng như thân phận nhỏ nhoi bị vùi dập lênh đênh trên dòng đời vô định.

                  xuyên suốt cả đoạn thơ là nỗi buồn sâu thẳm. tất cả hình ảnh thơ “sóng”, “thuyền”, “nước”, “củi” hiện lên trong thơ huy cận đều buồn sầu không một sức sống. bởi chính tâm hồn buồn man mác của nhà thơ đã dàn trải lên cảnh vật nên nhìn đâu cũng là nỗi sầu nhân thế. như thi nhân xưa có viết “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.

                  bằng việc sử Dụng những hình ảnh thơ chuẩn mĩ trong thơ xưa cùng hình ảnh thơ hiên ại qua cai nhìn của nhà thơ, knp với các biện phap tu tu t tu t ừt ừt ừt ừt ừt ừt ừt ừt ừt ừt ệt ệt ệt. Giàu Hình ảnh… nhà thơ huy cận đã vẽ nên một bức tranh mênh mang, rộng lớn nhưng buồn man myc trên sông hồng, ồng thểi thể hi nn nn về nh ỏ nh ỏ Đoạn thơ nói riêng cùng bài thơ nói chung là những vần thơ tiêu biểu cho hồn thơ sầu nhân thế của huy cận một thời.

                  phân tích khổ 1 tràng giang – mẫu 6

                  huy cận là cây bút tiêu biểu trong phong trào thơ mới. Đến với thơ huy cận, người đọc sẽ dễ dàng rung động bởi nỗi buồn man mác quẩn quanh. tràng giang là một tác phẩm như thế. bài thơ sẽ gợi lên cho chúng ta nỗi buồn nhân thế nặng sâu trong lòng tác giả. nỗi buồn ấy đặc biệt mênh mang, heo hút giữa không gian thiên nhiên vô tận được khắc họa ở đoạn mở đầu bài thơ:

                  “sóng gợn tràng giang buồn điệp điệpcon thuyền xuôi mái nước song songthuyền về nước lại sầu trăm ngảcủi một cành khô”</ m

                  mở đầu đoạn thơ, nhà thơ mở ra trước mắt ta một không gian tràn đầy sóng nước:

                  “sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp”

                  chỉ một câu thơ ngắn gọn nhưng bao quát được cả khung cảnh rộng lớn đồng thời gợi lên bao cảm xúc trong lòng người. hình ảnh dòng sông lững lờ trôi với những làn sóng gợn mênh mang hiện lên vô cùng chân thực và giàu sức gợi. “Tràng giang” với âm “ang” nối liền tạo nên tiếng vọng trong câu thơ, vẽ lên trước mắt người ọc hình ảnh dòng sông dài rộng, mênh m organized With Song Gợn Trên mặt sộng rộng lớn, nối ầu lên nhau, lớp này tiếp lớp kia, lăn l khn khng. Làm nổi bật nỗi buồn miên man đang rợn ngợp Trong lòng tac giả.

                  giữa dòng chảy bao la ấy, chiếc thuyền nhỏ đột nhiên xuất hiện, lênh đênh lạc lõng:

                  “with thuyền xuôi mái nước song song”

                  hình ảnh chiếc thuyền bé nhỏ, lững thững trôi đối lập hoàn toàn với dòng sông mênh mang, vô tận. Không Giống NHư with Thuyền Trên Sông đà của nguyễn tuân, mạnh mẽ vượt qua thac ghềnh, with Thuyền trôi trên dòng sông thơ huy cận “xuôi most” ể dòng nước nước nước nước nước nước nước nước nước nước thế nhưng, dưới cái nhìn của cái tôi huy cận, with thuyền ấy không phải là with thuyền bình thường. nó phải chăng chynh là biểu tượng cho những then phận nhỏ bé, cho những kiếp người đang lạc liqut lênh đênh giữa dòng chẛn ộộộic

                  từ láy “song song” được sử dụng trong câu thơ càng nhấn mạnh sự bất lực của with thuyền. nó dường như chẳng biết minh sẽ trôi về đâu, buông xuôi mái chèo, bỏ mặc tất cả. NGHệ Thuật Tiểu ối “Buồn điệp điệp” – “NướC song” Liên kết hai câu thơ tạo sự nhịp nhàng, chầm chậm ồng thời cũng như Lặng lẽ Trút ra tiế dà ự n ướ n

                  nỗi buồn của lòng người như thấm đượm vào cành vật. trong cái nhìn sầu đau của thi sĩ, sự chia ly chậm rãi hiện diện:

                  “thuyền về nước lại sầu trăm ngả”

                  thuyền và nước những tưởng là hai hình ảnh song song đồng hành với nhau, đến đây lại cách xa đầy buồn tủi. hình ảnh đối ngẫu “thuyền về nước lại” gợi sự chia lìa xót xa, thuyền một hướng, nước một hướng, sầ.gu vô cthô. thuyền lênh đênh trôi mãi đi xa chỉ còn dòng nước lặng lẽ ở lại, heo hắt, cô quạnh. thuyền và nước ở đây không còn là sự vật vô tri vô giác của thiên nhiên mà đã được nhân hóa lên như một con người. trước chia ly, chúng cũng có cảm xúc như with người: “sầu trăm ngả”. nỗi sầu không ngả một bên mà ngả trăm đường, lan tỏa, tràn lan như nuốt chửng cả không gian. câu thơ vang lên mà lòng người không khỏi trùng xuống.

                  nỗi buồn vẫn man mác bao trùm, khổ thơ khéo lại bằng hình ảnh vô cùng độc đáo:

                  “củi một cành khô lạc mấy dòng”

                  “củi” là thứ đơn sơ, mộc mạc, chưa từng xuất hiện trong thơ ca mang ý nghĩa biểu tượng. thế nhưng dưới cái nhìn của huy cận, nó lại gợi lên bao cảm xúc khác lạ, mới mẻ trong lòng người đọc. “cành củi” vốn đã mang cảm giác thật nhỏ bé, một cành củi “khô” ở đây càng gợi lên sự hoang tàn, héo úa. một cành củi khô lạc lõng giữa dòng chảy mênh mang của dòng sông, bơ vơ, vô định. nó thậm chí không thể xuôi dòng song song như with thuyền, bị quăng quật theo dòng nước, lạc đến mấy dòng. lối viết đảo ngữ “củi một cành khô” được sử dụng càng nhấn mạnh nỗi cô đơn, lẻ loi, héo tàn.

                  câu thơ như muốn gợi lên hình ảnh của thân phận nhỏ bé, bơ vơ lênh đênh giữa cuộc đời. cành củi khô lạc giữa dòng nước dường như chynh là hình ảnh biểu tượng cho with người mang trong mình nỗi sầu lo, lạc lõng vô ịnh giữa dòng ời xô ẩ ẩ ẩ ẩ ẩ ẩ ẩ

                  “bâng khuâng đứng giữa đôi dòng nướcchọn một dòng hay để nước cuốn trôi”

                  có thể nói, với 4 câu thơ ngắn gọn, huy cận đã sử dụng hiệu quả những biện pháp nghệ thuật đặc sắc. những hình ảnh thơ gợi cảm cùng pHép ối và các biện phap ẩn dụ, nhân Hóa, các từ lay đã giúp người ọc cảm nhận ược cai tôi nhỏ bé, suy tưc ờc ờc ọ nỗi buồn của nhà thơ trước không gian mênh mang, rộng lớn cũng chynh là nỗi lòng của thế hệ thanh n Niên trín trí thức trước tình cảnh ất nước mất chủt quyền.

                  với những giá trị trên, khổ thơ đã góp phần không nhỏ làm nên giá trị nội dung và tư tưởng của tràng giang. Đồng thời thể hiện được phong cách nghệ thuật độc đáo của huy cận. Để rồi năm tháng lặng lẽ chảy trôi, tiếng thơ huy cận vẫn còn âm vang mãi trong lòng độc giả.

                  phân tích khổ 1 tràng giang – mẫu 7

                  huy cận là một trong những nhà thơ thành công nhất phong trào thơ mới. người ta nhận xét thơ của huy cận thường buồn, một nỗi buồn sâu thăm thẳm, da diết, nỗi buồn của nhân thế, cuờc.đờc. các tác phẩm thơ của ông thường nghiêng về nỗi buồn và một trong số đó là tràng giang. bài thơ là điển hình cho nỗi buồn nhân thế mà huy cận luôn mang nặng trong lòng. và ở khổ ầu tiên trong bài thơ, huy cận đã miêu tả một cách thật chân thực cái nỗi buồn heo hút, mênh mang trong lòng mình, nỗi buớn gn trư.

                  “sóng gợn tràng giang buồn điệp điệpcon thuyền xuôi mái nước song songthuyền về nước lại sầu trăm ngảcủi một cành khô”</ m

                  tràng giang ược huy cận sáng tác vào một chiều thu năm 1939, khi một mình ông ứng trước dòng sông hồng hùng vĩ, lúnc đó, ông haung ông mƕơi.i hồn.

                  bài thơ là hình ảnh của thiên nhiên rộng lớn, ẹp ẽ, hùng vĩ của quê hương, ẩn sau bức tranh đó là một nỗi buồn sâu thăm tẳm của huy cận và và và m hiện lên giữa không gian mênh mông của thiên nhiên là một cái tôi nhỏ bé, lạc lõng, cô đơn giữa cuộc đời cùng nỗi cô đƺu. Huy cận, qua bài thơ, muốn thể hiềm khao khát ược hòa nhập với with người, với thiên nhiên, và kín đao ặt trong đó là nỗi niềm củt Thanh n ươc yg. With người ở thế giới của ông, sống giữa quê hương của mình nhưng lại thấy bơ vơ, lạc lõng trric với tình yêu quê hương tha thiết của mình?

                  bài thơ ược huy cận kết hợp giữa yếu tố cổ điển với yếu tố hiện ại, ông đem tinh thần, cai tôi của thơ mới vào trong một bài thể thất ngôn vớt thườt. những hình ảnh với thi tứ cổ đầy gợi tả và sinh động. chất thơ ường cũng thật ậm ặc, thấm ẫm từ nhan ề thơ, ến thể thơ rồi thi tự, các bús pháp nghệ thuật (ối, ng ối).

                  huy cận đã sáng tac bài thơ khi ứng trên bến chèm nhìn xuống dòng sông hồng đang chầm chậm chảy, vậy nên mở ầu bài thơ, :

                  “sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp”

                  một hình ảnh vô cùng chân thực và giàu sức gợi tả. một dòng sông lững lờ trôi với những with sóng gợn lên mênh mang. cụm từ “tràng giang” ược nhà thơ ặt ngay ầu của câu thơ ầu tiên, với hai âm “ang” tạo nên tiếng vọng choc câu thơ, cũng gợi lên chip mênh mông sóng nước, lại cổ kính, xa xưa. huy cận đã tinh tế vô cùng khi không ặt ở đy hai từ “trường giang” mà lại là “tràng giang” khiến cho người ta thấng dòng sông không chỉ m. hai từ “tràng giang” dường như cũng gợi lên phảng phất một chút gì đó trầm buồn đang rợn ngợp trong tâm hồn nhà thơ. từng con sóng nối nhau liên tiếp, dồn dập “điệp điệp” tràn lên nhau, xô nhau đẩy vào bờ.

                  “Điệp điệp”, từ láy mà huy cận dùng ở đây để gợi lên sự liên tiếp, tiếp nối nhau không rời, không dứt. NHữNG with SONG “GợN” Lên Trên Mặt NướC Sông Cứ “điệp điệp” Nối Nhau, Vỗ Lăn Tăn Trên Mặt Sông, Trùng Trùng NHư NỗI BUồN TRONG Lòng tac gi ản man, chồtn, tấtn, tấtn, tấtn, trôt n thật cụ thế. từ láy “điệp điệp” càng nhấn mạnh cái nỗi buồn trong lòng nhà thơ.

                  “with thuyền xuôi mái nước song song”

                  một chiếc thuyền nhỏ bé, lững thững chảy trôi theo dòng nước đối lập với cái bao la, mênh mang của dòng sông. Điều ấy lại càng gợi lên sự nhỏ bé, cô liêu đến vô cùng của with thuyền kia. with Thuyền ấy không như with đò trên dòng sông đà cuồn cup của nguyễn tuân cốc sức vượt thac ghềnh, with Thuyền của huys cận lại Buông Thòn ể ể ể ể ể ể ể ể ể ể ể ể ể ể ể ể ể ể ể ể DướI with mắt nhìn của cai tôi lãng mạn, with Thuyền kia phải chistng chính là những số phận nhỏ bé, những kiếp người lênh đênh giữa cuộc ời. và dòng sông chính là dòng chảy của cuộc sống mà con thuyền chỉ là một vật thể quá đỗi nhỏ bé giữa dòng sông ấy? từ xưa tới nay, with thuyền, dòng sông luôn là những hình ảnh gợi lên những điều xa xôi, những nỗi buồn xa vắng. Ở đây, huy cận cũng sử dụng cái hình ảnh cổ điển ấy để gợi lên tâm trạng, nỗi lòng của mình. c me “song “song” song”. , bỏ mặc tất cả.

                  nghệ thuật tiểu ối ược nhà thơ sửng trong hai câu thơ ầu tiên “buồn điệp điệp” – “nước song song”, tạo nên sự nhịp nhàng, chậm rãi châ tiếng thở dài đầy não nề của huy cận khi đứng nhìn dòng sông chảy.

                  nỗi buồn của huy cận dường như thấm vào trong cảnh vật, mỗi hình ảnh ông nhìn ều là nỗi buồn, ều là những cảnh sầu muộn, không hề cón chús vut vut vut. hình ảnh con thuyền giữa dòng sông cũng mang lại cho người ta một sự buồn bã, gợi lên cảnh lênh đênh. và with thuyền ấy with khiến người ta nghĩ về sự chia ly khi mà ông viết:

                  “thuyền về nước lại sầu trăm ngả”

                  thuyền với nước luôn là hai hình ảnh song hành với nhau, thế mà ở đây, lại mang đến một sự xa cách đầy buồn tủi. NGHệ Thuật ối ngẫu “Thuyền vềc lại” khiến người ta thấy ược sự chia lìa, Thuyền một hướng, nước lại một hướng, thật buồn bã biết bao. thuyền và nước ở đây được nhân hóa như một with người, chúng cũng có cảm xúc “sầu trăm ngả”. nỗi sầu ấy dường như lan tỏa ra, tràn ra vô tận, khắp mọi không gian. Đọc câu thơ lên ​​mà người ta như thấy con thuyền cứ lênh đênh, cứ đi xa mãi, còn dòng nước cứ lặng lẽ ở hûmût

                  Đọc câu thơ mà người đọc như cảm nhận được nỗi buồn ngấm vào trong gan ruột, ngấm vào từng câu chữ, buồn đồn vô.</n vô.</n

                  thế nhưng, đặc sắc nhất trong thơ huy cận, trong tác phẩm tràng giang phải kể tới hình ảnh thơ độc đáo:

                  “củi một cành khô lạc mấy dòng”

                  các nhà thơ thường sử dụng những hình ảnh mang biểu tượng với ý nghĩa ẹp ẽ như vầng tr ăng ơng. là độc nhất vô nhị trong thi ca việt – cành củi khô. hình ảnh cành củi khô giữa dòng nước vừa giản dị, vừa gợi lên bao cảm xúc khác lạ, mới mẻ trong lòng người đọc. một cành củi khô lạc lõng giữa dòng chảy mênh mang của dòng sông, nó bơ vơ, không biết hướng về đây. “Cành củi” vốn đã tạo nên một cảm giác thật nhỏ bé, thật tầm thường, vậy mà ở đây lại chỉ là một cài “khô”, càng gợi lên sự -hoang tàn, Hég. cành củi ấy không như with thuyền, nó nhỏ bé hơn, bị quăng quật trong dòng nước bao la đến nỗi “lạc mấy dòng”. nghệ thuật đảo ngữ được huy cận tận dụng triệt để ở đây, ông nhấn mạnh từ “củi” để gợi lên sự héo úa, thiếu sức sống đồng thời cũng để nhấn mạnh sự lẻ loi của cành củi giữa dòng sông rộng lớn. một vật thể nhỏ bé, lại chỉ có một “củi một cành khô”, ít ỏi quá đỗi giữa cái mênh mông của sông nước này. nhịp thơ 1/3/3, chậm rãi như gợi lên cái bé nhỏ quá đỗi của cành củi kia.

                  cả câu thơ như muốn gợi lên hình ảnh của một thân phận bé nhỏ, bơ vơ giữa dòng đời. cành củi lạc giữa dòng nước chảy trôi cũng như con người mang trong mình nỗi sầu vô hạn, bơ vơ giữa dòng đời đang xô tới. “Mấy dòng” nước, mấy dòng ời, vậy mà chẳng thể chọn lấy một with ường đi, with người ấy thật lạc lõng, thậhên như tố hữu cũng mình trong bài “dậy lên thanh niên”:

                  “bâng khuâng đứng giữa đôi dòng nướcchọn một dòng hay để nước cuốn trôi”

                  huy cận cũng đang trong tình thế ấy, và huy cận còn có một nỗi buồn mênh mang, sâu lắng hơn cả tố hữu nữa.

                  khổ thơ đầu bài thơ tràng giang đã cho chúng ta thấy được một nỗi buồn xuyên suốt trong từng câu chữ. tất cả những hình ảnh thơ ều sầu muộn, không có lấy một chút sức sống, chúng ều lênh đênh, bơ vơ, lạc ữa dlõng gi có lẽ bởi chính tâm hồn của huy cận cũng đang trong một nỗi buồn nhân thế, chính vì vậy, nỗi buồn ấy đã ngấm sang từng cảnh. như nguyễn du đã từng khẳng định rằng:

                  “người buồn cảnh có vui đâu bao giờ”.

                  bằng việc sử Dụng cực kì hiệu quả những pHép ối, những hình ảnh thơ, những biện phac tu từ, ẩn dụ, nhân Hóa, đã khiến chu chung ta cảm nh nh nh ượm đặc biệt khi nó đứng trước khung cảnh thiên nhiên rộng lớn, giữa vũ trụ bao la.

                  khổ thơ nói riêng cũng như bài thơ tràng giang nói chung ều tiêu biểu cho hồn thơ mang nỗi sầu nhân thế của huy cận – một vô vhong nhà trà thu page

                  phân tích khổ 1 tràng giang – mẫu 8

                  những cung bậc cảm xúc của con người thường được con người ẩn giấu qua những câu hát, giai điệu, câu thơ câu văn. chính các nhà văn, nhà thơ thường bày tỏ nỗi lòng của mình qua các câu chữ thấm đậm tình. huy cận là một trong những nhà thơ như vậy. Độc giả luôn cảm nhận được tâm trạng của ông qua các bài thơ ông sáng tác. “tràng giang” – một tác phẩm không thể không kể đến, một tác phẩm kiến ​​người đọc phải bồi hồi trong cảm xúc của tác giả. chắc hẳn mọi độc giả đều ấn tượng với khổ thơ đầu tiên. tác giả đã vẽ lên khung cảnh thiên nhiên thật đẹp trước sự cô đơn hiu quạnh quặn lòng.

                  “sóng gợn tràng giang buồn điệp điệpcon thuyền xuôi mái nước song songthuyền về nước lại sầu trăm ngảcủi một cành khô mong.”

                  nhan đề bài thơ là từ hán việt “tràng giang”, hai từ này nghĩa là “sông dài”, thật gợi hình gợi cảm tạo nên một không gian cổ kính. thêm vào đó, điệp vần “ang” đã tạo nên một âm vang xa mà rộng, mà dài, kéo mãi gợi nên một không gian bao la rộng lớn dài thật trang. cùng với nhan đề, đề tựa của bài thơ cũng rất đặc biệt “bâng khuâng trời rộng, nhớ sông dài”. phải chăng “bâng khuâng” chính là cảm xúc chủ đạo của bài thơ để tác giả gửi gắm nỗi buồn vô hình của mình. hình ảnh con người thật là nhỏ bé cô đơn trước biển “trời rộng, sông dài”.

                  mở đầu đoạn thơ, mở ra trước mắt ta là một dải sông dài rộng lớn:

                  “sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp”

                  một câu thơ chỉ vẻn vẹn có bảy chữ mà đã miêu tả được bao quát khung cảnh rộng lớn cùng với cảm xúc trong lòng tác giả. “Song Gợn” – Hình ảnh NHữNG Làn Song NHỏ Li Di Chuyển Trên Một Dòng Sông Dài Và Rộng Làm Cho With Người ta khi ứng trước cảnh này không khỏi cảm thấy mơ hồ. Ở đây, tác giả đã sử dụng đến từ láy “điệp điệp” để miêu tả nỗi lòng của mình. những gợn sóng cho ta cảm giác rất nhẹ nhàng nhưng không, nó cứ xô tiếp, “điệp điệp” kéo dài không ngớt, nó ẩy lòng ngƙn m bu.

                  hình ảnh chiếc thuyền lại được xuất hiện thật gợi hình gợi cảm trong thơ của huy cận:

                  Tham khảo: Ý nghĩa tên Gia Bảo – đứa trẻ báu vật vô giá của cả gia đình

                  “with thuyền xuôi mái nước song songthuyền về nước lại sầu trăm ngả”

                  trước một khung cảnh bao la bát ngát, xuất hiện lên một with thuyền khiến nó trở nên thật cô ơn hiu quạnh lênh đnh trên dòng sông nước rộng lớn. những tưởng “thuyền” và “nước” là hai vật thể “song song” không thể tách rời, nhưng qua cái nhìn của huy cận, chúng lại chia lìa nhau. một hình ảnh ối lập giữa “thuyền” và “nước”, một nỗi “sầu” của hai vật thể song mà trải dài ến tận tricòt chia li, nỗi l.</ nỗi l

                  nếu như Thuyền, Sông, Song và nước quá ỗi quen thuộc với ộc giả trong cac bài thơ thì chắc chắn ộc giả sẽ không khỏi ngạc nhiên với hình ảnh ảnh ảnh ả :

                  “củi một cành khô lạc mất dòng”

                  có thể nói rằng đây là một câu thơ “đắt” nhất của khổ đầu. “củi” một thứ mộc mạc ơn sơ giản dị, tưởng chừng không mang một ý nGhĩa gì trong thơ văn, nhưng dưới cai nhìn của huy cận nó lại trở n thật gợi hình cảm. một hình ảnh ẩn dụ mà mang tính hiện đại mới mẻ đến với người đọc. lối viết đảo ngữ “củi một cành khô” gợi nên một sự cô đơn, lạc lõng nó gần như “khô” quạnh không có sức sống. Đó cũng chính là tâm trạng của tác giả cũng như bao con người đang lạc mình trong thời kỳ mất nước.

                  một khổ thơ chỉc cri mươi tám chữ mà đã vẽ lên cho người ọc bao cảm xúc bồi hồi của một tâm hồn lớn trước tình cảnh ất nước mất chủ quyền. tác giả đã rất thành công trong việc miêu tả cảnh, sử dụng độc đáo các biện pháp nghệ thuật như điệp ngữ và ẩn dụ. giữa không gian rộng lớn mênh mông, người nghệ sĩ thấy bơ vơ, nỗi buồn nhân thế giữa dòng đời xô đẩy.

                  bài thơ “tràng giang” nói chung cũng như khổ thơ ầu nói riêng đã ạt ến trình ộộ cao của vĂn chương, khiến người ọc không thểng thể nào qu ượ ượ huy cận thật khéo léo khi kết hợp tả khung cảnh thiên nhiên và nỗi lòng của mình vao trong đó. Dù tác giả không coce nhắc trực tiếp ến ất nước những từ tận sâu trong bài thơ đó là tình yêu tổ quốc, một lòng đau đáu về ất nước, luôn cầu mr ấ

                  phân tích khổ 1 tràng giang – mẫu 9

                  nhắc tới những sáng tác trước cách mạng của nhà thơ huy cận không thể không nói tới bài thơ tràng giang. Đây là bài thơ được tác giả viết vào thời điểm năm 2939, khi ông còn đang là sinh viên. huy cận đứng ở bờ nam để ngắm sông hồng mênh mông rộng lớn với biết bao nỗi niềm xúc động. từ những cảm nhận đó tác giả đã viết nên bài thơ này.

                  trước tiên người đọc chú ý đến nhan đề của bài thơ. như chúng ta đã biết thì nhan đề là kết tinh cho toàn bài thơ, là điểm chú ý đầu tiên của người đọc khi tiếp xúc với bài thơ. nhan đề còn có nhiệm vụ tạo nên hứng thú cho người đọc, người nghe, gợi sự tò mò, tìm hiểu của mọi người. huy cận sử dụng từ “tràng giang” trong đó “tràng” có nghĩa giống với từ “trường” tức là dài, còn “giang” là dòng sông. cả từ “tràng giang” có nghĩa là sông dài. huy cận không sửng từ “trường giang” ặt cho bài thơ mà sử dụng “ang” khiến cho nhan đề như truyền tải được sự dài rộng của dòng sông.

                  mở đầu bài thơ là lời đề từ “bâng khuâng trời rộng nhớ sông dài”. chính lời đề từ đã khái quát nên nội dung và cảm hứng, tâm hồn của nhà thơ. cảm xúc của bài thơ đó chính là nỗi buồn sâu lắng và được thể hiện qua từ “bâng khuâng”. một nỗi buồn man mác, không rõ nguyên nhân nhưng lại da diết và khôn nguôi. tâm trạng ấy được hình thành khi nhà thơ đứng trước không gian “trời rộng, sông dài”. with người khi đứng trước không gian ấy càng trở nên nhỏ bé, lẻ loi.

                  ngay ở khổ thơ đầu bài thơ tràng giang thì nội dung cũng như cái tôi được tác giả thể hiện rất rõ ràng:

                  “sóng gợn tràng giang buồn điệp điệpcon thuyền xuôi mái nước song songthuyền về nước lại sầu trăm ngảcủi một cành khô m”.

                  nhắc đến sông nước, đứng trước dòng sông mênh mông, rộng lớn thì người ta không thể nào không nhắc tới nhờg.g with s Ở ngay câu thơ đầu tiên nhà thơ đã nhắc đến with sóng giống như mang theo tâm trạng, cảm xúc. từ “tràng giang” lại một lần nữa được nhắc đến. nhà thơ dùng từ “tràng” thay bởi từ “trường” chính là để phân biệt với con sông trường giang của trung quốc. giống với ý nghĩa của phần nhan đề thì từ “trường giang” gây cảm giác về một không gian rộng lớn, bất tận. giữa những con sóng, đứng trước không gian rộng lớn ấy chính là hình ảnh của nhân vật trữ tình. mặc dù không được nhắc đến trực tiếp nhưng chúng ta vẫn có thể cảm nhận được sự hiện diện của tác giả. sự lẻ loi nhưng con sóng nhỏ giữa mặt nước mênh mông, nó trở nên cô độc và như mang trong mình nỗi “buồn điệp điệp”. nỗi buồn như vô tận, kéo dài mãi.

                  Đến câu thơ thứ hai tác giả đã có sự di chuyển điểm nhìn từ cái nhìn xa, bao quát đến một điểm nhìn cụ thể:

                  “with thuyền xuôi mái nước song song”

                  vốn tưởng sự xuất hiện của con thuyền sẽ mang đến cảm nhận về sự sống của con người nhưng trái lại càng thên bung. with thuyền thì nhỏ nhoi, đơn độc đối lập hẳn với sự mênh mông của “tràng giang”. càng thêm phảng phất nỗi buồn khi mà con thuyền rơi vào trạng thái “xuôi mái”, xuôi một cách buông bỏ cho dòng nước đẩy đưa. huy cận đã dùng nghệ thuật lấy động tả tĩnh. con thuyền tưởng như đang chuyển động nhưng thực chất chỉ bất động và chịu ảnh hưởng của con sóng, dòng nước.

                  câu thơ thứ ba hai hình ảnh thuyền và dòng sông lại được sóng đôi cùng nhau:

                  “thuyền về nước lại sầu trăm ngả”

                  with Thuyền Giống như đang phá vỡ quy lật của bình thường, thuyền “xuôi mai” tức là xuôi Theo dòng nước ấy bậy mà lại có sự vận ộng “về – lại”. vốn chảy cùng chiều nhau nhưng đến câu ba lại có sự ngược chiều. sự phi logic trong câu thơ giống như sự lo âu, lạc lõng, trăn trở của chính tác giả. khổ thơ đầu tiên kết lại bằng một hình ảnh thơ rất lạ:

                  “củi một cành khô lạc mấy dòng”

                  nhành củi là hình ảnh rất quen thuộc, gần gũi nhưng nó ít khi được đưa vào trong thơ ca. nhà thơ huy cận đã phá vỡ những quy tắc để lấy hình ảnh nhành củi khô trên nền thiên nhiên rộng lớn, kì vĩ. cành củi nhỏ bé, đơn độc lạc giữa dòng nước giống như chính nhà thơ đang phải chịu đựng sự cô đơn, lạc lõng. nó biểu tượng cho kiếp người nhỏ bé, phù du trôi nổi giữa dòng đời vô định.

                  có thể nói với những hình ảnh độc đáo, tả cảnh ngụ tình tác giả đã vẽ nên bức tranh thủy mặc về cảnh .sông qua khổ thứ nhất ta có thể cảm nhận được nỗi buồn được thấm đẫm trong từng cảnh vật.

                  phân tích khổ 1 tràng giang – mẫu 10

                  Đọc “tràng giang”, chẳng ai có thể phủ nhận danh hiệu nhà thơ “buồn” nhất trong văn học hiện đại việt nam. nỗi buồn cố hữu trong tâm hồn cùng với cảm giác lạc lõng trong cảnh ất nước mất chủt quyền mà huy cận đã viết lên bài thơ “tràng giang” sau những chiều dạo chơi bếi bế nỗi lòng ấy, cái tôi ấy được thể hiện rõ ràng nhất trong khổ thơ đầu tiên của bài thơ:

                  “sóng gợn tràng giang buồn điệp điệpcon thuyền xuôi mái nước song songthuyền về nước lại, sầu trăm ngảcủi một càụkhngdò.” m

                  huy cận là một trong những cái tôi phong cách nổi bật trong phong trào thơ mới 1930-1945. thơ huy cận mang nỗi buồn hoài cổ ngàn năm cùng nhiều sáng tạo mới mẻ. bài thơ “tràng giang” là thành công lớn trong sự nghiệp thơ ca huy cận trước cách mạng. trong đó, khổ thơ đầu tiên là khái quát không gian sông nước mênh mông từ điểm nhìn mặt sông.

                  ọC khổ thơ ầu tiên mà bỗng rùng mình rợn ngợp một nỗi buồn đìu hiu, xa vắng mà ở đó 4 nốt trầm ngân lên gồm sone, thuyền, nước và cành củi.

                  từ câu thơ mở đầu, người ta đã thấy nỗi buồn dằng dặc:

                  “sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp”

                  tác giả dùng từ “tràng giang” như nhãn tự, điểm mấu chốt xuyên suốt bài thơ. dùng từ hán việt “tràng giang” vừa ể phân biệt với con sông trường giang (trung quốc) vừa lấy âm “a” và điệp “ang” gợi tảng gian rộng mênh mông, dài bất tật tật tật t. giữa with sông rộng ấy có một chuyển động rất nhỏ rất tinh – “gợn”. MộT with Song NHỏ BÉ, Chuyển ộng giữa ngợp trời biển rộng hẳn cô ộc lắm, cô ộc nên nó mới mang trong mình nỗi buồn lớn khủng khiếp, “buồi điệp đp đp đp đp đp đp đp đp đp đ nỗi buồn như gấp lên ngàn vạn lần cùng từ láy “điệp điệp”.

                  “with thuyền xuôi mái nước song song”

                  câu thơ thứ hai, tác giả chuyển tới điểm nhìn with thuyền. tưởng chừng như thuyền sẽ mang đến chút hơi thở sự sống. song, huy cận chỉ thấy nỗi buồn thê lương hơn khi thuyền rơi vào trạng thái “xuôi mái”, buông bỏ, phó mặc. with thuyền không mục đích, không phương hướng. như vậy, cũng như hình ảnh sóng trên, hình ảnh thuyền cũng là bút pháp lấy động tả tĩnh. tưởng như sóng như thuyền đang vận động, song thực tế lại hoàn toàn bất động. câu thơ thứ ba có lối cấu trúc vận động khá đặc biệt:

                  “thuyền về nước lại sầu trăm ngả”

                  hình ảnh thuyền và nước dường như phá vỡ quy luật thường tình. nước chảy thuyền trôi. một con thuyền đang xuôi mái tất yếu sẽ di chuyển theo hướng nước chảy. thế nhưng, hai thực thể vốn vận động cùng chiều này lại đối lập “về” – “lại”. tuy vậy, sự phi logic trong tự nhiên lại rất có lí trong vận động tâm trạng tác giả. tâm hồn đầy lo âu, mặc cảm, lạc lõng kia có thể nào thấy được cảnh tượng thiên nhiên hòa hợp, sum vầy?

                  nếu như ba câu thơ đầu toàn là những thứ quen thuộc như sóng, thuyền, nước thì câu thơ cuối lại xuất hiện rình:

                  ảt

                  “củi một cành khô lạc mấy dòng”

                  văn học trung đại trước đó nói đến nào là “tùng cúc trúc mai”, nào “long ly quy phượng”, còn huy cận? huy cận ề ề cập một từ “củi” mà như pHá vỡi quy luật, mọi khuôn mẫu pHép tắc nền thi ca trước đó ể rồi dẫn ường cho cai tôi ộc đc đc đc đ đ

                  câu thơ sử dụng nghệ thuật đảo trật tự cú pháp, thay vì “một cành củi khô”, huy cận đã đảo toàn bộ trật tự thànkhô>

                  về nội dung, câu thơ hội tụ mọi nỗi cô đơn, ảo não, buồn tủi của một kiếp hồng nhan lo lắng về dòng đời trất. “củi”, “khô” là vật chết. “một cành” là đơn độc. “lạc mấy dòng” – sự lạc lõng, chơi vơi. tất cả những gì hiện diện trong câu thơ là chết chóc, chán chường, cô độc, bất lực trước dòng đời.

                  như vậy, những hình ảnh vừa quen vừa lạ, giàu hàm súc, giàu sức gợi c cuar trưng của nền thơ ca hiện đại. mặt khác, phân tích khổ ầu bài thơ tràng giang ta cũng thấy ược cái tôi huy cận buồn “ảo não”, ầy hoài cổ thấy chân dung một trí theức. bài thơ “tràng giang” của huy cận xứng đáng đưa nhà thơ trở thành “đỉnh cao” thơ mới.

                  phân tích khổ 1 tràng giang – mẫu 11

                  huy cận là nhà thơ đi đầu trong phong trào thơ mới. thơ của ông thường mang đậm nỗi buồn da diết, sâu thẳm của nhân thế thời bấy giờ. Đoạn 1 bài thơ tràng giang thể hiện rõ nhất.

                  “sóng gợn tràng giang buồn điệp điệpcon thuyền xuôi mái nước song songthuyền về nước lại, buồn trăm ngảcủi một cành”

                  bài thơ tràng giang được huy cận cho ra đời vào chiều thu, khi ông đứng lặng mình bên bờ sông hồng. vừa bước vào bài, nhà thơ đã vội vã miêu tả cảnh sông nước vắng lặng, mệnh manh như chính nỗi buồn tonc giả cảm ảm ảửng ctr

                  “sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp”

                  chỉ vừa đọc câu thơ, người đọc đã liên tưởng ngay đến con sông rộng lớn mênh mông nước nhưng chẳng có nổi một v. nỗi buồn càng nhân lên khi tác giả dụng ý dùng từ “tràng giang” thay “trường giang”. Điều đó khiến dòng sông không chỉ có chiều rộng, dài mà còn có chiều sâu.

                  cụm từ “buồn điệp điệp” được mô tả cho những con sóng dồn dập, thi nhau liên tiếp xô vào bờ. những con sóng mang theo nỗi buồn của thi nhân cũng vì vậy được nhân hóa lên thêm nhiều. nỗi buồn đang trải dài vô tận và chẳng biết trước bao giờ kết thúc, tựa như sóng con này đến con khác xô vào bờ.

                  bên cạnh không gian đìu hiu bên dòng sông, with thuyền bé xuất hiện thông qua câu thơ:

                  “with thuyền xuôi mái nước song song”

                  giữa dòng sông mênh mang, with thuyền bỗng hiện lên bé nhỏ, lênh đênh. người đọc không thể nhận biết con thuyền xuất hiện là thực hay chỉ trong ý nghĩ của thi ca. bởi với cái nhìn ượm buồn nhưng ầy lãng mạn huy cận đã dệt nên con thuyền ể biểu thị thân phận nhỏ bé, ᧝í ổi c

                  with thuyền không còn xa lạ trong làng thơ ca việt. tuy nhiên, with thuyền xuôi mái nước song song chỉ có ở huy cận. Từ “Song Song” xuất hiện không chỉ thực hiện nhiệm vụ tạo tiếng thở dài như tiếng lòng đang dâng lên của nhà thơ, bên cạnh đó còn tạo ộ

                  “thuyền về nước lại sầu trăm ngả”

                  sự chia lìa được nhà thơ đưa ra thể hiện cho sự xa cách giữa thuyền và nước. tính từ nhân hóa “sầu trăm ngả” ược sử dụng giúp người ọc cảm nhận ược nỗi buồn da diết hơn của nƺớục khi thuy Điều này cũng giúp người đọc phần nào đó hình dung được sự lặng lẽ và heo hút của không gian này.

                  “củi một cành khô lạc mấy dòng”

                  hình ảnh độc đáo được huy cận đưa ra. cành củi nhỏ bé trở nên lạc liqut giữa dòng nước lớn tựa như thân phận nhỏ nhoi của con người bị chiến tranh vùi, la dlp

                  chỉii những hình ảnh của sone, thuyền, nước và củi đã mang ến cho người ọc một khổ thơ tuyệt vời dưới những vần điệu do huy cận tạo nên. những hình ảnh tuy đơn điều nhưng trở nên ý nghĩa với lối văn hiện đại kết hợp cùng các biện pháp tu từ hẫnp d. bức tranh đẹp nhưng buồn đã điểm tô được thân phận con người trong thời đại bấy giờ.

                  phân tích khổ đầu bài thơ tràng giang đã giúp người đọc nhận ra sự tài tình của nhà thơ huy cận. Đồng thời, phản ánh được tình yêu quê hương sâu sắc của ông. vì vậy, chẳng phải dĩ nhiên xuân diệu đã rằng:

                  “chàng huy cận khi xưa hay sầu lắmnỗi nhớ nhung không biết đã vơi chưahay lòng chàng vẫn tủi nắng sau mưacùng đất nướng buồnúc

                  phân tích khổ đầu tràng giang – mẫu 12

                  nếu như xuân diệu là thi sĩ của niềm ám ảnh thời gian thì huy cận lại là nhà thơ của nỗi khắc khoải không gian. Đọc tràng giang, chẳng ai có thể phủ nhận rằng huy cận chính là nhà thơ buồn nhất trong văn học việt nam hiện đại. nỗi buồn cố hữu trong tâm hồn cùng với cảm giác lạc lõng trong cảnh ất nước mất chủt quyền mà ông đã viết lên bài thơ tràng giang sau những chiều dạo chơi bếi bến bến bến bến bến bế nỗi lòng ấy, cái tôi ấy được thể hiện rõ ràng nhất trong khổ thơ đầu tiên của bài thơ:

                  “sóng gợn tràng giang buồn điệp điệpcon thuyền xuôi mái nước song songthuyền về nước lại, sầu trăm ngảcủi một càụkhngdò.” m

                  huy cận là một trong những nhà thơ xuất sắc nhất trong phong trào thơ mới 1939-1945, thơ ông mang một nét ặc sắc và giọng điệu. Ông làm thơ từ năm 1934, đĂng thơ từ năm 1936 và Co nhiều tac phẩm tiêu biểu như tập thơ lửa thiêng (1940), trời mỗi ngày lại Sáng (1958), ất nở ở 1940). một bài thơ nổi tiếng của huy cận, sáng tác năm 1939, đăng lần đầu trên báo ngày nay, sau đó in vào tập lửa thiêng.

                  ngay từ khổ đầu tiên, huy cận đã mở ra trước mắt đọc giả cảnh sông nước mênh mông bất tận:

                  sóng gợn tràng giang buồn điệp điệpcon thuyền xuôi mái nước song song

                  cảnh và tình người được thể hiện song song trong từng câu thơ. con sóng trên mặt nước sông tràng giang gờn gợn nhẹ nhàng không dứt cũng như nỗi buồn của con người cứ dào dạt ến ảt ợy ợt một nỗi buồn “điệp điệp” day dứt lòng người. với tấm lòng sầu tư ngắm nhìn cảnh ấy, nhà thơ cảm thấy nỗi buồn của mình cũng đang trải ra từng đợt điệp. dư ba của dòng sông gợi những xao xuyến trong lòng người; nghệ thuật ẩn dụ đã khiến sóng sông hòa với sóng lòng, những gợn sóng trên sông triền miên, vôn như hữu hình hóa những ồng bợn tron. Câu thơ của huy cận nhấn mạnh tương quan về sắc this: Song gợn miên man vô tận cũng như nỗi buồn điệp điệp triền my di “diết khôn ngu … more dạt phó mặc cho dòng nước chảy.hình ảnh con thuyền đó gợi lên kiếp người nhỏ bé đơn côi với cuộc đời vô đủa mh

                  giữa tràng giang điểm nhìn của tác giả hướng vào con sóng nhỏ gợn trên mặt nước. sóng tuy rất nhiều nhưng chúng hiện ra rồi lại tan biến vào hư vô mãi mãi như thời gian trôi qua không lấy lại được. từ xưa tới nay thuyền và nước là hai hình ảnh luôn luôn gắn bó không thể tách rời nhau. vậy mà giờ thuyền với nước chỉ song song nhau thôi chứ không phải gắn bó lâu dài đi cùng nhau hết đoạn đường sông dài vô t. bởi vì nước xuôi trăm ngả thuyền biết theo lối nào. Thuyền – nước như hai ường thẳng song Song phân cach nhau không bao giờc fi điểm chung mà gặp gỡ, điều này dễ khiến ta li li -tưởng ếnh chia ly ly gi gi ữt ướt ướt ảt ảt ảt ảt ướt ướt ướt ướt ảt ảt ảt ảt ả ảt.

                  thuyền về nước lại sầu trăm ngảcủi một cành khô lạc mấy dòng

                  câu cuối của khổ thơ huy cận đã mượn hình ọc ến câu thơ “củi một cành khô lạc mấy dòng“ ta mới tận hưởng rõ nét cai tài, cai there are Trong thơ của ông. như nỗi buồn sầu cô ơn ngày càng Ăn sâu vào tâm trí nhà thơ mà cai ơn ộc nay còn ược nhấn mạnh hơn ở sự nhỏ bé giảm dần của sựt vật ược c c v. Giữa một dòng sông rộng lớn duy chỉ có with Thuyền Thôi đã Thy nhỏ nhoi, Lạc loài giữa chốn sông nước, nay chỉc có ộc một cành củi khô thì nghe thật be nh nhỏt ươ.

                  phân tích khổ đầu tràng giang – mẫu 13

                  khác với hồn thơ sôi nổi, nhiệt huyết gắn với công cuộc ổi mới sau cach mạng that 8. thơ huy cận những nĂm trước cach mạng lại mang né sầu, dive. chẳng thế mà “tràng giang” ra đời lại khắc họa nét cô đơn của cá thể trước không gian bao la của thiên nhiên. Điều đó được thể hiện rất rõ qua khổ 1 bài tràng giang.

                  sone gợn tràng giang buồn điệp điệpcon thuyền xuôi mái nước song songtuyền vềc lại sầu trìm ngảcủi một cành khô mòp lại sầu trìm ngảcủi một cành khô mòp> m.

                  khổ một trong bài thơ tràng giang của huy cận đã gợi lên bao nỗi niềm của con người trước cảnh sông dài, trời rộng.

                  trước mắt ta hiện lên hình ảnh dòng trường giang mênh mông. huy cận không gọi đó là trường giang mà gọi là tràng giang. những âm “ang” đi liền với nhau đã biểu hiện, tạo nên cảm nhận về những lớp song cùng những gì là mênh mông, bát ngát, trải dài.trê dòng trường giang ấgợn lên nh Láy: ”điệp điệp, Song Song” Cũng Góp pHần tạo nên cai trạng thati dập dềnh của song nước.từ hoàn cảnh ra ời của tac pHẩm, ta biết dòng tràng giang mà huy cận nói ến câu thơ:” sóng gợn tràng giang buồn điệp điệp” đã thể hiện được nỗi sầu khôn tả của thi sĩ. Đó là nỗi buồn trải dài bất tận như những lớp sóng điệp điệp, nối tiếp; là nỗi buồn chồng chất, tầng tầng, lớp lớp. ngay câu thơ này, tạo vật và tâm tình đã có sự gắn quyện.Điều đó sẽ được thể hiện trong suốt cả tác phẩm.

                  trên dòng trường giang hiện lên hình ảnh con thuyền xuôi mái khiến ta có bao cảm nhận khác nhau. Đó chính là with thuyền lênh đênh, trôi dạt, with thuyền buông xuôi mái chèo để măc cho dòng nước cuốn trôi. ta cũng có thể hiểu câu thơ theo nghĩa: đó là con thuyền bất lực trước dòng nước, trước sức mạnh của thiên nhiên. Với 2 cach hiểu ấy, ta vẫn có một cảm nhận rất chung: hình tượng thơ đã gợi một cảm xúnc buồn thương diết khi ta nghĩ ến những kiếp người trôi nổi, phiêt ttòt. trong xã hội cũ, thuyền luôn luôn hướng về bến. nhưng nếu có một bến đợi nào đó thì với con thuyền đo cũng chỉ là một bến bờ cô liêu mà thôi.

                  thuyền và nước vốn gắn bó, thế mà ở đây:”thuyền về nước lại”. thuyền và nước lại có sự chia li, cách xa. trong câu thơ trước, tác giả nói đến nỗi buồn điệp điệp,còn ở đây lại là nỗi “sầu trăm ngả”. như vậy đã có sự tăng tiến trong tâm tư của tác giả.nỗi buồn không chỉ còn ở chiều sâu, bề sâu mà đã trải rộng đến tr. dòng trường giang, dòng sông hồng ấy đã trở thành một dòng sầu cuồn cuộn. lời thơ khiến ta ngỡ như có một dòng sầu thảm trong tâm tư tuôn chảy hòa cùng dòng sông mênh mang. ta chỉ còn nghe thấy tiếng nước hay là tiếng sầu đang nức nở, triền miên. tình đã hoaf nhập với cảnh một cách trọn vẹn.

                  hình ảnh with Thuyền xuôi Mái Bao Quanh Là những lớp song, là nỗi buồn, nỗi sầu trìm ngả khiến ta nhớ ến những câu thơ của xuân diệu: ”tôi là with nai

                  không biết đi đâu đứng sầu bóng tối”

                  sự tương đồng của những hình ảnh thơ cho ta một ý niệm khái quát về nỗi niềm của cả một thế hệ trước cách mạng. Đúng như huy cận đã khẳng ịnh: chungs tôi lúc đó có cả một nỗi buồn thời ại vì bế tắc không tìm ra lối đi nà nó trio cứ kío

                  Đến câu thơ” củi một cành khô lạc mấy dòng ” ta lại có thêm những nỗi niềm. NếU 3 Câu Thơ ầu Có sự đĂng ối trong hơi thở cổ điển thì ến câu này ta lại thấy một cành củi khô mà xuân diệu đc nhận xért: clear hi hihn thự ốtm ếm ếm. nhưng huy cận đã không viết câu thơ này một cách ngẫu nhiên, đã có sự cân nhắc, lựa chọn vô cùng kĩ lưỡng. sau khi lược bỏ nhiều câu thơ, tác giả đã chọn câu này. Đây đúng là một câu thơ đã gợi ra những cảm nhận phong phú. từ một cành cây xanh tươi nơ núi rừng đầu nguồn đến một cành củi khô bập bềnh trôi nổi, thân phận cỏ cây đã quau. Điều đó khiến ta càng nghĩ đến những thân phận trôi nổi, bị vùi dập, càng thêm cảm thương những kiếp người. hình ảnh cành củi khô giữa dòng trường giang ấy còn tạo nên sự tương quan đối lập đặc sắc. Đó là sựng quan giữa cành củi với dòng sông mênh mông.cùng với sựng pHản ấy, ta còn thấy hình tượng thơ gợi một ý niệm vềi mối quan hệ giữa with ng.

                  dòng sông càng mênh mông vời vợi, with người càng nhỏ bé đơn côi. chính điều này đã khiến ta có cảm giác rờn rợn như chính nỗi lòng của tác giả.

                  nhìn chung nỗi buồn là tâm trạng của các nhà thơ lãng mạng lúc bấy giờ, nỗi buồn của cả thế hệ thanh niên lúc bấy giờ chưa giác ngộ ược ể ồ ồ ồ tơngy cy thểnd. “sầu ảo não”. bài thơ “tràng giang” được đánh giá là bài thơ dọn đường cho thơ về quê hương đất nước. cách sử dụng ngôn từ thơ cũng như biện pháp tu từ là tạo nên một tác phẩm hay và đặc sắc.

                  Đang xem: Những mẫu tranh tô màu bác sĩ đẹp cho bé yêu tập tô Update 10/2022

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button