Tác phẩm văn học

Hình tượng người phụ nữ Việt Nam trong xã hội cũ qua Tự Tình II và Thương vợ

hình tượng người pHụ nữt việt nam trong xã hội cũ qua tự tựnh II và thương vợ lài tài liệu vĂn mẫu môn ngữ vĂn lớp 11, giúp các bạn học tốt môn ngữ vĂn.qua Này, chung ta thấy ược vẻ ẹp về hình thức cũng như tâm hồn của người pHụ nữt việt qua 2 tac pHẩm tự tình thii ưà 2 v mời các bạn cùng tham khả

me. dàn ý hình ảnh người phụ nữ việt nam qua bài thơ tự tình ii và thương vợ

dàn ý hình ảnh người phụ nữ việt nam qua bài thơ tự tình ii và thương vợ mẫu 1

1. mở bài

giới thiệu tác giả hồ xuân hương, trần tế xương và dẫn dắt vào hình ảnh người phụ nữ việt nam qua bài thơ tự Ửng vì.</thảng

2. what’s up

Xem thêm: Phân tích bài thơ thương vợ và tự tình

a. bài thơ tự tình 2

bối cảnh không gian và thời gian: lúc đêm khuya khi cảnh vật thanh vắng, không một bóng người, chỉ có những âm thanh tiếng trống vang ượnét càng.

tình trạng người pHụ nữ: uống rượu say lại tỉnh, trong cơn say quên ược nỗi cô ơn mà mình đang trải qua nhưng khi tỉnh lại thấy sốngs ắng cay.

một trái tim khao khát tình yêu, yêu và được yêu. luôn mong được sống trong trọn vẹn hạnh phúc nhưng số phận hẩm hiu của người vợ lẽ không cho phép điều đó. sợi tình duyên của bà vốn đã bé lại phải san sẻ với người khác chỉ con lại mảnh bé con con càng thêm đau xót.

→ sự đối lập: hi vọng, khao khát có được tình yêu càng lớn lao, mãnh liệt bao nhiêu thì thực tại càng phũ phũ phàng, b᪺c bhiýo → người đọc tiếc thương cho một hồng nhan, tài năng, cá tính nhưng lại gặp phải tình cảnh bi quan, đượm buồn.

b. bài thơ thương vợ

bài thơ thương vợ được viết trên góc nhìn của người chồng là ông tú đối với vợ mình. bài thơ là cái nhìn thương cảm, yêu thương và hổ thẹn của một người chồng dành cho vợ.

hoàn cảnh sống: bà tú phải làm việc buôn bán vất vả quanh năm ở mom sông – mảnh ất nhô ra phía so ểng ể ể ông, khng chỉn ôn. she đang chờ kì thi để đỗ đạt.

những khó khăn, vất vả mà bà tú phải trải qua vô cùng nhiều, sự cần mẫn, chăm chỉ của một người phụ nữ làm trụ giatron.

bà cam chịu cuộc sống hiện tại, cho rằng đó là số phận của mình, chỉ có cách chấp nhận và làm nó thật tốt.

cuối bà là tình cảm của ông tú dành cho vợ mình, là tiếng chửi bản thn vô dụng không thể giÚp ỡ vợ mình, ể cho vợ mvợ ᥺u ph. <.

c. khai quát chung

cả hai bài thơ ều nói về hình ảnh người pHụ nữ, tuy có sự khác biệt nhưng ở họ ều toát lên vẻ ẹp pHẩm chất với những ức tanh tốt ẹẹp. NHưNG ở Họ Là những nỗi khổ riêng khó nói nên lời, một bên cóc cup sống ầy ủ ủ vật chất nhưng thiếu thốn tình cảm, khao khát yêu và ượ ược y ượ một bên có được tình cảm, sự thủy chung của người chồng nhưng lại vất vả một nắng hai sương kiếm miếng ếm miếch. dù ở trong bất cứ hoàn cảnh nào, họ đều có những nỗi khổ riêng, chỉ có cách chấp nhận thực tại của mình.

3. kết bài

dàn ý hình ảnh người phụ nữ việt nam qua bài thơ tự tình ii và thương vợ mẫu 2

mở bài:

– giới thiệu hình ảnh người phụ nữ trong văn học nói chung

– cảm hứng về người phụ nữ trong thơ hồ xuân hương và trần tế xương.

thân bài:

*người phụ nữ chịu nhiều thiệt thòi, gian nan, vất vả:

+ ở Bài “Thương vợ” là hình ảnh người phụ nữ chịu thương chịu khó, lặn lội sớm khuya, vất vả quanh nĂm vì những gánh nặng cơm Áo Gia đ.

+ ở Bài “tự tình II” là nỗi buồn về thn pHận, về chuyện tình duyên, vềnh phúc gia đinh-nhưng điều rất quan trọng và vô c có ý nhối ụi nh. >

* người phụ nữ với nhiều phẩm chất tốt đẹp và khao khát yêu thương:

thc

+ ở Bài ‘thương vợ “, hình ảnh bà tu nổi bật với vẻ ẹp của người phụ nữ Truyền thống việt nham nhân hậu, ảm đang, giàu ức hi withouthu chồng thồng with h.

kết bài

– người phụ nữ xưa phải chịu nhiều bất hạnh và sự hạn chế của ý thức xã hội

– nhắc nhở with người phải biết trân trọng hạnh phúc của ngày hôm nay

Bài văn mẫu về hình tượng người phụ nữ Việt Nam

ii. văn mẫu hình ảnh người phụ nữ việt nam qua bài thơ tự tình ii và thương vợ

bài mẫu 1: hình ảnh người phụ nữ việt nam qua bài thơ tự tình ii và thương vợ

hình ảnh người phụ nữ luôn là đề tài quen thuộc của văn học dân gian. mảng đề tài đầy cảm hứng nhân văn này đã làm nên giá trị của nền văn học nói chung, gương mặt của các tác giả riêngó.i tiêu biểu là hồ xuân hương với “tự tình ii” (ii) và tú xương với “thương vợ”.

Đúng như vậy, hai bài thơ với hai người phụ nữ đều khát khao một mái ấm gia đình. xong cuộc đời lại lắm éo le trắc trở. họ phải chịu đựng số phận hẩm hiu chế độ phong kiến ​​mục nát. cái chế độ mà khi nhắc tới ai ai cũng thấy bất bình tĩnh. là phụ nữ thì sao chứ? chẳng lẽ phụ nữ không phải with người trong xã hội? Hà cớ gì cứ phải bắt người pHụ nữ làm những thứ họ không muốn từ những hủc tục lạc hậu: cha mẹt ặt đu with ngồi đó, trọng nam khinh nữ, người pH. >

trước hết, thơ của hồ xuân hương là những lời than the từ nỗi ni ềm riêng của một ca thể, chất chứa những vấn ề ề mang tầm phổ quát của thn phận ngườ hay nói cách khác, bằng việc viết lên tiếng nói cá nhân. hồ xuân hương làm sống lên hình ảnh người phụ nữ việt nam xưa. “tự tình ii” (ii) nằm trong chùm thơ tự tình ii gồm ba bài viết bằng chữ nôm. Đó là sự đau khổ vì ella không là chủ được thân phận mình. trong khung cảnh lúc nửa đêm nổi bật chỉ là âm thanh “văng vẳng” của trống canh dồn, tiếng trống dồn dập, gấp gáp như hối thiúc v. Âm thanh văng vẳng không chỉ đơn thuần là sự cảm nhận bằng thính giác mà còn là cảm nhận của xúc giác về thời gian. “Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn”. nhức nhối một tâm sự “trơ cái hồng nhan với nước non”. vẻ đẹp của người phụ nữ trong đêm trơ trọi, im ắng, gợi lên hình ảnh “hồng nhan” trở nên rẻ rúng, không có giá trị. chắc hẳn ai trong tình cảnh của hồ xuân hương cũng cảm thấy quạnh hiu, đau nhói, buồn phiền. hình ảnh “cái hồng nhan” với “nước non” càng cho thấy tâm trạng bẽ bàng tủi hổ của người phụ nữ. cùng với nỗi buồn đè nặng lên con người nhỏ bé trong xã hội, đè lên thân phận của họ. hồ xuân hương là with người rất mạnh mẽ, bà không cam chịu và muốn thoát khỏi. “chén rượu hương đưa” là một phương tiện giải sầu, tuy không phải phương tiện duy nhất nhưng là tốt nhất vào lúc này. tìm quên trong chén rượu, say rồi lại tỉnh, càng uống càng nhận thức mọi thứ rõ ràng hơn. nó như một vòng luẩn quẩn khiến người phụ nữ ấy nhận ra sự cô đơn trĩu nặng hơn. hướng tới vầng trăng mong tìm người bạn tri âm tri kỉ giữa đất trời nhưng “khuyết chưa tròn” lại còn “bong xế”. ngoại cảnh và with người g đây như một. người phụ nữ tự hỏi đến bao giờ trăng mới tròn. đến bao giờ ella người mới có được tình yêu cho mình. trăng đã sắp tàn mà ella vẫn chưa tròn, tuổi xuân qua đi mà nhân duyên chưa tới. người phụ nữ đang chơi vơi giữa một thế giới mênh mông, hoang vắng, muốn thoát khỏi nhưng bất lực trước nỗi cô ƛihn trơn

Bài văn mẫu về hình tượng người phụ nữ Việt Nam

Đến với tú xương là đến với những bài thơ tràn đầy tình yêu thương, cảm động viết về người vợ đang còn sống. bài thơ “thương vợ” thể hiện tâm thế và vị thế của một người mẹ, một người vợ đảm đang. Bà your thể đã phải chịu nhiều nghiệt ngã của cuộc ời nhưng bà lại có niềm hạnh phúc mà bao kiếp người vợ xưa không đ.ƣcó vì chồng, thương with mà her chịu cam chịu quanh năm suốt tháng, ngày này qua ngày khác không có lấy một ngày nghỉ, ngày mưa cũng như ngày nắng, bà tú lam lũ buôn bán trên một mấảnh. cái nơi bấp bênh, gập ghềnh hiện lên hình ảnh tần tảo, tất bật ngược xuôi của bà tú. “quanh buôn bán ở song of mother”. cái nền không gian, thời gian ấy, cuộc mưu sinh đầy khó khăn của bà tú được ông tú phác họa. “lặn lội thân cò khi quãng vắng”. hình ảnh “thân cò” là hình ảnh tượng trưng cho người phụ nữ trong xã hội xưa. Ông tú đã dùng hình ảnh đó để nói về nỗi vất vả của bà tú, đồng thời cũng gợi lên số kiếp, nỗi đau thân de ella. thân cò “lặn lội” trong một khoảng không gian “khi quãng vắng” vừa chỉ ra cái rợn ngợp của thời gian, vừa chỉ ra cái rợn ngợp củna.na khôgiana. hình ảnh bà tú trở nên rõ nét hơn về sự vật lộn với cuộc sống from her. “eo sèo mặt nước buổi đò đông”. cảnh bươn chải, chen chúc nhau của những người buôn bán rất khó khăn. “buổi đò đông” đâu có giống như “khi quãng vắng”. nó không chỉ có những lời cãi cọ, mè nheo, sự chen lấn xô đẩy mà còn có những bất trắc nguy hiểm. biết là vậy nhưng bà tú vẫn đi trên chuyến đò đó để dành miếng cơm manh áo cho chồng with her. dù vắng hay đông bà tú cũng thui thủi một “thân cò”.

tuy rằng số phận ràng buộc họ nhưng nhờ đó những phẩm chất cao quý của người phụ nữ được hiện diện.

dù đau ớn thế nào, dù yếu ớt ến đu thì trong sâu thẳm trái tim hồ xuân hương cũng ánh lên ngọn lửa khao khát, hello . “xiên ngang mặt đất rêu từng đám./Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn”. tâm trạng con người như muốn nói lên nỗi phẫn uất, ngang ngạnh, bướng bỉnh. thiên nhiên trong mắt hồ xuân hương tiềm ẩn một sức sống đang bị đè nén và đang vươn lên mạnh mẽ. “rêu”, “đá” chỉ là những vật nhỏ bé, hèn mọn nhưng không hề yếu đuối bởi rêu xiên ngang mặt đất, đá đâm toạc chân mây. Điều đó càng chứng tỏ hồ xuân hương muốn bứt phar rào cản ể đi tìm hạnh phúc choc mình, muốn giải thoet số phận hoàn cảnh, thể hi hi tuy lòng đầy canh cánh nhưng bà vẫn nhìn cảnh vật với with mắt yêu đời. yêu đời là thế, sức sống là thế mà cuộc đời riêng thì vẫn “xuân đi xuân lại lại”. cái vòng quẩn quanh đáng ghét của cuộc đời không thể tránh khỏi tiếng thở que chua xót. càng chua xót hơn khi giữa cái tuần hoàn thời gian ấy là một “mảnh tình” nhỏ vụn đã vỡ nhưng nay vẫn bị sẻ đi sẻ lại. Đối với trái tim thiết tha yêu thương kia, điều đó như một vết thương cứa sâu đau nhức nhối, khao khát một tình yên v

dù có vất vả, đau xót, chán chường đến thến thế nào thì người phụ nữ việt nam xưa vẫn là những con người có phẩm ch. không chỉ vẻ bề ngoài mà còn cả bên trong. Đó là lòng yêu thương, lòng nhân hậu, một lòng một dạ vì chồng vì with. She “nuôi đủ năm con với một chồng”. “nuôi đủ năm con” là việc hiển nhiên của một người mẹ nhưng còn chồng, cớ sao lại phải đếm “một chồng”? là vì chồng, bà tú cũng phải nuôi và đáp ứng đầy đủ nhu cầu cần thiết cho ông tú. Bà your phải thắt lưng buộc bụng nuôi dưỡng năm ứa trẻt vất vả, vậy mà her phải nuôi thêm một ông tu Tu Trong nhà nữa thì she gánh nặng đè lên đôi vai nhỏ của của bấp đp. sự khéo léo. Đảm đang của bà thể hiện ở việc lựa chọn ông tú mà sống, khéo léo chiều sự khó tính khó nết của ông để trong ấm ngoài êm. bà tú nhẫn nhục chịu đựng cái nợ đời như một sự tất yếu ella không thể không chấp nhận. “một duyên hai nợ âu đành phận”. Điều kì diệu là người mẹ, người vợ này không hề ý thức rằng đó là sự hi sinh. sự vất vả “năm nắng mười mưa” càng thể hiện ược ức tính chịu thương chịu khó, hết lòng vì chồng vì with mà bà đu “dám công” bà tự nguyện gánh vác trách nhiệm chăm lo cho gia đình. dù vất vả trăm điều nhưng bà vẫn âm thầm chịu đựng. phải chăng đó chính là đức hi sinh – vẻ đẹp truyền thống của người phụ nữ việt nam?

hai người phụ nữ đẹp đều tìm thấy sức mạnh, ý chí để vượt lên hoàn cảnh. nhưng trong cuộc thoát thân họ còn cô đơn quá, vì thế mà thất bại. một người muốn bứt phá, thoát khỏi cuộc sống ngột ngạt. một người cam chịu , nhẫn nại để làm tròn bổn phận một người mẹ, một người vợ. một người được đồng cảm, sẻ chia. một người cô đơn một mình, buồn đau trước số phận hẩm hiu. CHỉ KHI NHữNG NGườI PHụ Nữ BIếT đON KếT, BIếT ồNG Lòng dướI Sự Lãnh ạO CủA ảNG Họ MớI COR THAY ổI ượC Số PHậN, Làm chủc ược Cutộc ời Mình.

người phụ nữ thời xưa phải chịu nhiều thiệt thòi, bất công, ngang trái và bị hạn chế bởi xã hội phong kiến. còn người phụ nữ ngày nay được quyền bình đẳng, quyền học tập, quyền lựa chọn tình yêu và quyền làm chủ đi họ không còn bị đối xử như trước nữa. tuy người phụ nữ ngày xưa có cuộc đời éo le nhưng hình ảnh sâu thẳm trong họ không bao giờ bị mất đi. dù hoàn cảnh có ra sao thì tâm hồn cao đẹp của họ vẫn sáng lên. và điều đó khiến ta luôn tự hào về người phụ nữ việt nam.

bài mẫu 2: hình ảnh người phụ nữ việt nam qua bài thơ tự tình ii và thương vợ

thời xưa, dưới chế ộ ộ phong kiến ​​suy tàn, mục nát, số phận người phụ nữ luôn bị vùi dập vào vũng lầy đau khổ, luôn bị trói bomộc bởi xã hột công, mữ n. ”, một chế độ đa thê…. họ gặp nhiều đau khổ, tình duyên trắc trở, số phận hẩm hiu. trong kho tàng văn học việt nam có rất nhiều bài thơ nói lên thân phận của người phụ nữ phong kiến ​​xưa. họ không có quyền quyết định cuộc đời mình, chỉ biết sống cam chịu và phục tùng. cảm thông với thân pHận và pHẩm chất của người pHụ nữ, hình ảnh đó đã ược thể hiện rất tài tình qua hai bài thơ tình II của hồ ồ ồ ồNg v

họ là những người pHụ nữ có tài có sắc, có pHẩm chất cao ẹp nhưng thân pHận của họ lại vôn cùng nhỏ bé, cuộc ời của những người phụ nà này long đong lận lận ận ận. họ phải sống trong một chế độ xã hội phong kiến ​​lạc hậu, trọng nam khinh nữ, không có chỗ đứng và địa vị trong xã hội.

với bản lĩnh của mình và cũng là nạn nhân trong xã hội đó, hồ xuân hương đã mạnh dạn nói lên nỗi lòng của nhỰi ng. thơ bà là tiếng nói đòi quyền sống tự do và thể hiện khát khao hạnh phúc. Ở de ella bài thơ tự tình ii ii, hồ xuân hương đã bộc bạch tâm trạng bức xúc cao ộ của bản thân, ồng thời cũng là tâm o trạng chung c

Đây là một cảnh trong đêm khuya, vắng lặng, yên tĩnh, bà một mình không ngủ, thiếu thốn yêu thương. Đó là sự khổ đau vì ella không làm chủ được số phận của mình:

“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồntrơ cái hồng nhan với nước non.”

mở đầu là một âm thanh vang vọng, đầy hối hả: trống canh dồn. nhưng dù mãnh liệt đến mấy, tiếng trống cũng chỉ là âm thanh duy nhất trong đêm vắng. cái động đã đươc sử dụng để tôn lên cái tĩnh, cái cô độc, trống trải của đêm khuya. NửA đêm là thời gian sum họp của vợ chồng, là thời điểm hạnh phúc lứa đôi, ấy vậy mà lại có người pHụ nữ tĩnh dậy vào đúng thờng ượng ượ ng ế ng ế ng ế ng ế một điều gì đó, vì tâm trạng đang mang nặng một nỗi đau? bà khắc khoải đợi chờ, tâm trạng khi đó thật rối bời, lo âu, buồn bã. hồ xuân hương cảm nhận được sự bẽ bàng của duyên phận. chính trong bối cảnh ấy đã hiện ra một with người cô độc, trơ trọi. ”hồng nhan” là cách gọi chỉ người with gái đẹp, rộng hơn là chỉ chung giới nữ. nhưng gọi là cái hồng nhan có nghĩa là đã hạ nó xuống ngang hàng với những vật vô tri vô giác khác. ”trơ” trơ trọi, cô đơn, trơ đến mất cả cảm giác. câu thơ cùng thể hiện một tâm trạng cô đơn, quạnh quẽ rất mực của con người trong 1 không gian rộng lớn. tưởng như nghe ược từ 2 câu thơ ấy cả những tiếng thở dài ngao ngán, tủi hổ về duyên phận hẩm hiu của một người pHụ nữ đa tài đa tình.

“Chén rượi hương ưa Say lại tỉnhvầng trăng bong xế khuyết chưa trònxiên ngang mặt ất, rêu từng đámđâm toạc chân mây, đá mấy hònngán nỗi xuân đi xu

thấy trống vắng cô đơn, để quên đi nỗi buồn trơ trọi này, bà đã nhờ đến rượu mượn chút hương nồng. nhưng càng uống, bà càng tỉnh. ”di lại tỉnh” gợi vòng luẩn quẩn, bế tắc của số phận xót xa của tác giả. Đến câu thơ tiếp theo, nỗi đau lại tiếp tục được thể hiện rõ ràng và đậm nét. “Vầng Trìng Bong nhưng bà có thấy sự đồng cảm ở đâu đó? hay bà chỉ thấy số phận dở dang của mình đang hiện diện trong một vầng trăng khuyết? trăng vốn là một biểu tượng của hạnh phúc, là hình ảnh đại diện cho cho những ước mơ và hy vọng. nhưng hạnh phúc của hồ xuân hương lại xót xa ến mức “khuyết chưa tròn”, tuổi xuân đã qua mà hạnh phúc không hề trọn vẹn. bà cảm thấy xót xa, cay đắng cho số phận dở dang, nhân duyên lỡ làng. she ngày tháng she cứ vô tình chồng chất thêm hy vọng, đợi chờ, khao khát. nhưng hp vẫn mù tăm. càng cô đơn, càng mong đợi thì đau buồn lại càng lắng đọng thêm. Đó chính là bi kịch của người phụ nữ có thân phận hẩm hiu. dù ella phải trải qua nhiều bi kịch nhưng ella bà vẫn cố gắng gượng với đời. phản ứng của bà tuy mạnh mẽ và dữ dội nhưng ella thực tại ella vẫn đắng cay, chua chát. She phải sống trong 1 xã hội trọng nam khinh nữ, xem phụ nữ là hạ ẳng, chẳng chút gì trân trọng yêu thương thì bà pHải lâm vào cảnh ngộ ‘lạnh lùng thấm thía nỗi buồn đau riêng ấy của mình, nhà thơ muốn cất lên tiếng nói nhằm ấu tranh choc nữ giới ều ược sống, ược yêu thương, ược 1 cuộc sốnhng. nhưng việc ấy đâu pHải dễ dàng, bởi ngay chính bà vẫn pHải đang gánh chịu 1 duyên phận hẩm hiu … tâm sự trĩu nặng nỗi buồn, thân pHận và duyên phận củn của không không bi dứt trong lòng giữa đêm khuya. nhưng dù she bị phũ phàng there is quên lãng thì she bà vẫn k tuyệt vọng, vẫn khao khát sống, vẫn ước ao có một hạnh phúc tròn đầy.

còn ối với bài ” thương vợ ” của trần tế xương, ông ứng dưới khía cạnh một người đàn ông, cảm thông cho người, lu cợ cợ cợ họ luôn sống cam chịu, hi sinh cho chồng with:

“quanh nĂm Buôn Bán ở Mom Sống, Nuôi ủ ủ nă with với một chồnglặn lội thân cò khi quãng vắng, eo sèo mặt nước buổi đò đng.một duyên cha mẹ thói đời ăn ở bạc,có chồng hờ hững cũng như không!”

những câu thơ trên có thể coi là 1 chân dung tương đối hoàn chỉnh của người phụ nữ trong xã hội phong kiến. hình ảnh đầu tiên của người phụ nữ việt nam đó là hình tương người phụ nữ chịu nhiều đau khổ, vất vẻngc trong. Đó là hình ảnh bà tú vất vả, gian truân kiếm sống, tất bật ngược xuôi “quanh năm buôn bán ở mom sông” để ”nuôi đủ 5 con vớing” 1 ch. Câu thơ đã nói lên một hoàn cảnh làm ăt vất vả, lam lũ của bà, làm việc vất vảt suốt cả năm, không kể mưa nắng mom sông- cai ất nhônh ênh ểnh, nguy nguy nguy nguy nguy Đông con, nuôi lũ con đông ấy đã đành, bà còn phải nuôi chồng. she năm with với một chồng là sáu người. nhưng nuôi đủ vẫn hiểu là vừa đủ, không thiếu nhưng cũng chẳng thừa. Vất vả quanh năm ến vậy mà cũng chỉ vừa ủủ nuôi chồng, nuôi with, vậy mới thật là vất vả, Thím Thía nỗi vất vả, gian truân của vợ, your xương đã m ể ểnh ểnh ểnh ể ểnh ểnh ể ểnh ểnh ể ểnh ể ểnh ểnh ểnh ể ểnh ể ểnh ể ểnh ểnh ểnh ể ểnh ể ểnh ể ểnh ểnh ể your. có điều hình ảnh con cò trong ca dao đầy tội nghiệp mà hình ảnh con cò trong thơ tú xương con tội nghiệp hơn. with cò trong thơ không chỉ xuất hiện trong cái rợn ngợp của không gian mà còn là rợn ngợp của thời gian. hình ảnh thân cò như một sự sáng tạo ưa từ lặn lên ầu câu, thay with cò bằng thân cũng cũng làm tăng thêm nỗt vả, gian truân của thhm, thhy âc, thhm, thhy ât thm, thhy ât thm, thhy ât thm, thhy ât thm, thhy ât thm ât thm, thm, thhy ât ât ât ât thm, thm, thhm, thhm, thhm, thhm, thhm. hơn như vậy là bà tu pHải lo rất nhiều, pHải làm rất nhiều nhưng ” âu đành phận ”, ” dám quản công ” bà vẫn chấp nhận khhng hề kêu ca, phàn nàn nàn, Thu than the ththn. bà âm thầm coi đó là định mệnh đã an bài, bà sẵn sàng, tự nguyện gánh khổ cực vì chồng from her with from her. nổi lên là đức hi sinh thầm lặng cao quý, giàu đức hi sinh, bà là người đảm đang, tháo vát, chu đáo vs chồng con. Dùc vất vả, đau xót ến mức nào, thì người pHụ nữt việt nam xưa vẫn là những with ngườico những pHẩm chất ẹp ẽ, khnes, một dạ vì chồng, vì con. qua đó, ông tú cũng tự trách mình, tự nhận mình làm chồng mà vô tích sự, tự mắng mình là gánh nặng của vợ. Ông còn chửi thói đời bạc bẽo, chửi cả xã hội trọng nam khinh nữ. vì he quá thương vợ, có lẽ ông tú đã hóa thân vào vợ mình để thông cảm và thấu hiểu bà. lấy chồng mà chẳng được nhờ vả, cậy dựa, lấy phải ông chồng hờ hững thì quả thật có cũng như không mà thôi.

cả 2 bài thơ, 2 người phụ nữ, họ đều cảm nhận được thân phận, số phận của mình 1 cách rõ ràng. cùng ý thức được về bản thân và cuộc sống của mình. song cuộc đời lại lắm éo le trắc trở. họ phải chịu số phận hẩm hiu. Họ ều là những người pHụ nữ tần tảo, nhẫn nại, cam chịu duyên pHận, biết mà không thể làm gì ược ể ể ể trhát khỏi cuộc sống tù tamp, ngột ngạt ến bếc ấc ấc ấc ấc ấc. Họ mất tự do, không ược sống cho chính mình … 2 bài thơ cùng 1 ề tài và cùng toát lên thân pHận nhỏ bé, phụ thuộc rất đáng thương của người phụ nữ nữ >

đó là những hiện thân cho những khổ đau của with người trong xã hội xưa, ồng thời là kết tinh của những ức tíh tốt ẹp của ng ười phụ nữ vi -nam qua h. Trong cả hai bài thơ là hình tượng người pHụ nữt nam chịu nhiều đau ớn, tủi cực dưới chế ộ pHong kiến ​​nhưng ở họ toát lên sự ấu tranh tranh mạnh mẽ, vượt lên số phụ nữ trong gia đình, một người phụ nữ dám vượt lên trên đớn đau để tìm hạnh phúc mà mình hằng khao khát.

bài mẫu 3: hình tượng người phụ nữ việt nam trong xã hội cũ qua tự tình ii ii và thương vợ

“thân em như củ ấu gairuột trong thì trắng vỏ ngoài thì đenai ơi nếm thử mà xemnếm ra mới biết rằng em ngọt bùi”

Đã từ lâu, hình ảnh người phụ nữ việt nam xưa đã xuất hiện nhiều qua những câu ca dao với những vẻ đẹp, hình tưc. nhưng ở họ đều có chung đức tính truyền thống đẹp đẽ mà dân tộc việt nam đã tích luỹ được qua hàng ngàn năm lao vđộng và tran hình ảnh đó cũng được thể hiện rất tài tình qua hai bài thơ tự tình ii ii của hồ xuân hương và thương vợ của trếxn ư

hình ảnh ầu tiên của người pHụ nữt nam ược thể hi hi qa hai bài thơ đó là hình tương người phụ nữ việt nam chịu nhiều đau khhổ, vất vảt vả trong cuộc sốc sốc sốc sốc sốc sốc sốc sốc sốc sốc sốc sốc sốc sốc sốc sốc sốc sốc sốc sốc sốc sốc s Đó là hình ảnh bà tú vất vả, gian truân kiếm sống, tất bật ngược xuôi “quanh năm buôn bán ở mom sông”. câu thơ đã nói lên một hoàn cảnh làm ăn vất vả, lam lũ của bà. Ở đây, bà tú làm việc vất vả suốt cả năm, không kể mưa nắng trên mom sông – cái doi đất nhô ra đầy nguy hiểm. thấm thía nỗi vất vả, gian truân của vợ, tú xương đã mượn hình ảnh con cò trong ca dao để nói về bà tú. có điều hình ảnh con cà trong ca dao đầy tội nghiệp mà hình ảnh con cò trong thơ tú xương con tội nghiệp hơn. with cò trong thơ không chỉ xuất hiện trong cái rợn ngợp của không gian mà còn là rợn ngợp của thời gian. hình ảnh thân cò như một sự sáng tạo:

“lặn lội thân cò khi quãng vắng”

ưa từ lặn lội lên ầu câu, thay with cò bằng thn cũng làm tăng thêm nỗi vất vả, gian truân của bà tres, càng khơi dậy cải ỗi đau thân sắc, tte, tte, thte thhi

“eo seo mặt nước buổi đò đông”

câu thơ gợi nên một sự chen chúc, bươn chải trên sông nước của những người buôn bán nhỏ, sự cạnh tranh ến mức sat pHạt nhau nhưng cũng không the i thi ến lời ại ại ạ buổi đò đông đâu phải là ít lo âu, nguy hiểm hơn khi quãng vắng mà đó con là sự chen lấn, xô đẩy chứa đầy bất trắc, nguy hi. những câu thơ đã làm nổi rõ lên những vất vả, cực nhọc mà bà tú và người phụ nữ việt nam xưa phải chịu đựp> trựp>

còn với bài thơ tự tình ii ii của hồ xuân hương thì đó là sự khổ đau vì không làm chủ được số phận của mình:

“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồntrơ cái hồng nhan với nước non.”

mở đầu là một âm thanh vang vọng, đầy hối hả: trống canh dồn. nhưng dù mãnh liệt đến mấy, tiếng trống cũng chỉ là âm thanh duy nhát trong đêm vắng, nếu không có nó thì đem khuya sẽ trốn vông công vùl. cái động đã đươc sử dụng để tôn lên cái tĩnh, cái cô độc, trống trải của đêm khuya. NửA đêm là thời gian sum họp của vợ chồng, là thời điểm hạnh phúc lứa đôi, ấy vậy mà lại có người pHụ nữ tĩnh dậy vào đúng thi khắc liêng ấ ả ả ượ ế ế ượ ượ ả ả ả ả ả ả ả ả ả ả ả ả ả vắng một điều gì đó, vì tâm trạng đang mang nặng một nỗi đau? tiếng trống canh âm vag từ xa vọng lại như đang thúc giục thời gian qua mau, gọi ến một điều đáng sợ ối với một người đàn bàn vẫn còn thân ơn gốc. tuổi già càng đến gần nghĩa là hi vọng càng tuột xa, mọi mong mỏi, khát khao càng trở nên vô vọng. tiếng trống dồn dập cứ xoáy sâu vào tâm con người phụ nữ, nó âm vang trong tâm tưởng, âm vang trong suy nghĩ không tài nào dứt được. dồn dập, hối hả, tiếng trống không chỉ bao trùm lên không gian mà còn lên cả thời gian nữa, và tựi hỏi: đây có thật là tiếng trống hiện hữu trong thực tại tại thổn thức của tác giả, tiếng trống ám ảnh về một bi kịch đang ngày càng đến gần hơn với bà:

“trơ cái hồng nhan với nước non”

khi thời gian cứ lướt qua càng lúc càng dồn dập thì cũng là lúc “hồng nhan” ngày một trơ ra với đời. “hồng nhan” chính là nhan sắc, gương mặt xinh đẹp của người phụ nữ. Đó là điều mà bất cứ người phụ nữ nào cũng hết sức tự hào, coi trọng, nâng niu. nhưng từ “cái” gắn liền với “hồng nhan” như một hòn đá kéo nặng cả câu thơ xuống. “hồng nhan” để làm gì khi nữa đêm phải tĩnh giấc trong cái trống trãi, lặng lẽo đến đắng cay? “hồng nhan” để làm gì khi nó đâu phải là vĩnh cữu mà sẽ nhanh chóng vỡ tan theo từng nhịp trống dồn. Câu thơ như lời đay nghiến, mỉa mai chynh bản thn mình, đáng thương cho những người phụ nữ ương thời bị đè nén, ap bức với những thủc tục phong ki ến ế Đó còn là nỗi đau vì cô quạnh, thiếu vắng hạnh phúc lứa đôi, không người yêu thương, thông cảm.

“chén rượi hương đưa say lại tỉnhvầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”

hai câu thơ vẽ nên một khung cảnh rất thật và cũng chứa chan bao nỗi niềm tác giả. một người phụ nữ mà phải ngồi uống rượu một minh, cô đơn với đêm khuya, với vầng trăng lạnh. câu thơ là ngoại cảnh mà cũng là tâm cảnh, tạo nên sự đồng nhất giữa trăng với người. khi muốn quên sầu là lúc người ta ở trong tâm trạng Cay ắng nhất, khi xung quanh không có ai ể ể có thể chia sẽ niềm và ta chỉ còn biết quên đi nỗi niềm trong rượt một một một một một một một m nhưng liệu chén rươu có thể làm quên đi bảo nỗi cô ơn, tủi nhục trong lòng there are hồ xuân hương uống rượu mà như uống đi bao giọt sầu mà ng ường ượm ngm ngm ngm ngm ngm ngm ngm ngm ngm ngm ngm ngm ngm ngm ngm ngm ngm ngm ngm ngm ngm ngm ượm n. họng, để đau khổ cũng chẳng mất đi đâu mà trở lại chính trong tâm trí mình. Ở đây cảnh tình xuân hương được thể hiện chứa đựng bi kịch. tuổi xuân đã trôi qua mà nhân duyên không được trọn vẹn. trăng vốn là biểu tượng của hạnh phúc, là hình ảnh đại diện cho ước mơ và hi vọng. nhưng hạnh phúc của hồ xuân hương lại xót xa ến mức “khuyết chưa tròn” – một hạnh phúc không hề trọn vẹn, một cuộc ời còn dang dang dở, ío với những. hạnh phúc của bà chỉ như vầng trăng khuyết mà bà không thể biết trước ngày mai trăng sẽ khuyết tiếp hay tròn. Ánh trăng sáng mà lạnh lẽo vô cùng khi ẩn hiện trong đó một nỗi cô đơn, trống vắng. và bóng xế đi kèm với trăng lại gợi nên một nỗi niềm trong lòng tác giả: nỗi lo sợ trước tuổi xuân đang mất đi. trăng đã xế mà vẫn khuyết chưa tròn, giống như tuổi xuân của xuân hương đang mất đi mà tình duyên chưa được trọn vẹn. hình ảnh mặt trăng là hình ảnh ẩn dụ vông ộc đao và ặc sắc, miêu tả chynh xác và vông cùng sinh ộng ngoại cảnh mà cũng bộc lộ ượ ược t. p>

nhưng dù có vất vả, đau xót, Chán chường ến mức nào, thì người pHụ nữt việt nam xưa vẫn là những with người CO chồng, vì with:

“nuôi đủ năm with với một chồng”

câu thơ là gánh nặng gia đình đặt lên vai bà tú, vất vả quanh năm chẳng nề hà như vậy là để nuôi cả nhà. Đông con, nuôi lũ con đông ấy đã đành, bà còn phải nuôi chồng. she năm with với một chồng là sáu người. một phải gánh sáu, thế là nặng, phải gánh và gánh được, thế là đảm đang. nhưng nuôi đủ vẫn hiểu là vừa đủ, vừa đủ nuôi, không thiếu nhưng cũng chẳng thừa. vất vả quanh năm đến vậy mà cũng chỉ vừa đủ nuôi chồng, nuôi con, vậy mới thật là vất vả, đã gắng hết sức rồi. vậy mới thật là đảm, nặng đến thế mà cũng gánh xong, khó thế mà cũng chu toàn. câu thơ thể hiện sự vất vả, gian lao ức tính chịu thương, chịu khó, hết lòng vì chồng, vì con của bà tú nói riêng và của ngưụn chun.

còn với tự tình II II, dù ớn đau ến mức nào throng sâu thẳm trai tim bà, dù yếu ớt ến đu cũng loé lên ang lửa khát khao, hi vọng, không chịu khu -tu its. thay đổi cuộc sống của mình of her:

“xiên ngang mặt đất, rêu từng đámĐâm toạc chân mây, đá mấy hòn.”

một hình tượng thiên nhiên dữ dội, đầy cựa động như tính cách buớng bỉnh, không chịu khuất phục điều gì của gichín. Ở đây, hồ xuân hương, sự buồn tủi bao giờ cũng gợi nên những pHản ứng tích cực, bà không buông xuôi, ầu hàng mà her luôn cố gắng tìm cach thay ổ trong suy nghi. HAI Câu Thơ TưởNG NHư CHỉ Miêu tả cảnh vật xung quanh, nhưng chynh những ặc điểm cuảnh vật đó đã ược dùng ểc lộ tâm trạng c cona with người. hàng loạt những động từ mạnh đầy sắc thái biểu cảm như xiên, đâm được đảo lên đầu câu. những sinh vật bé nhỏ, hèn mọn, còn hèn mọn hơn cả “nội cỏ hoa hèn” như đám rêu kia mà cũng không chịu mềm yếu. nó phải mọc xiên, mà là “xiên ngang mặt đất”. Đá đã rắn chắc lại phải rắn chắc hơn, nó phải “đâm toạc chân mây”. biện pháp nghệ thuật ảo ngữ trong hai câu dã làm nổi bật sự phẫn uất của thân phận ất đá, cỏ cây mà cũng là sằ ᥺t cự ᥺t của thân chỉ những cảnh vật bình thường không có gì ặc biệt như rêu và đá, nhưng qua cách nhìn ấy bất mãn, ấm ức của ống ống ốcả tr,. Cự ộng, nổi loạn, phar phach, muốn ập so những gì gò bó ẻ dược tự do vùng vẫy giữa ất trời, thiên nhiên hoà hợp với with người, ặc điểm thiênn nhi -nng nng ềng ềng. Và ta cũng thấy ược tâm trạng của hồ xuân hương phẫn uất trước những tục lệ pHong kiến, cũng nhưng số pHận hẩm hiu đang tàn nhẫn ra tay bóp chết hạnh những uất hận ấy bị đè nén, gò epo lòng bà ến mức el không chịu nổi chỉc chực vỡ oà ra, bà khao khát muốn ập tung tất cả, muốn ập ổ mọi thứ, muốn n. NHưNG Dù Sao, Bà Cũng chỉ là một người pHụ nữ phong kiến, một thân phận nhi cô ộc, dù phach, dù nổi loạn ến đu thì cũng chỉng giới hạn ngôn từ. she bà không thể làm gì hơn được nữa. Mặc dù vậy, ta pHải công nhận đây là một cach suy nghĩ vông mới mẻ, một tưng đi trứoc thời ại, một tanh cach hoàn toàn khác biác biệt so với người phụ ny ny ny ny ny gấy gấy gấy gấy gấy gấy gấy. Đó là một bản lĩnh, một cá tính xuân hương đáng trân trọng:

“ngán nỗi xuân đi xuân lại lạimảnh tình san sẻ tí con con”

ngán là chán ngán, là ngán ngẩm. hồ xuân hương ngán lắm rồi nỗi đời éo le, bạc bẽo. xuân đi rồi xuân lại, tạo hoá chơi một vòng luẩn quẩn. từ xuân mang hai nghĩa, vừa là mùa xuân, vừa là tuổi xuân. mùa xuân đi rồi, mùa xuân trở lại với thiên nhiên, với muôn nghìn hoa cỏ, lá cây, nhưng với con người tuổi xuân qua là không bao. hai từ “lại” trong cụm từ “xuân đi xuân lại lại” mang hai ý nghĩa khác nhau. từ lại thứ nhất nghĩa là thêm lần nữa, từ lại thứ hai nghĩa là trở lại. sự trở lại của mùa xuân lại đồng nghĩa với sự ra đi của tuổi xuân. nghệ thuật tăng tiến làm cho nghịch cảnh càng éo le hơn: mảnh tình-san sẻ-tí with with. mảnh tình đã bé lại còn san sẻ ra thành ít ỏi, chỉ còn tí con con nên càng xót xa, tội nghiệp. câu thơ được viết ra có thể là tâm trạng của người mang thân đi làm lẽ. Đau xót biết mấy, khi mảnh tình là một thứ được chia năm xẻ bảy, nhận dược duy nhất một mảnh tí with with. hạnh phúc của bà chẳng những không trọn vẹn mà còn nhỏ bé, ít ỏi đến mức độ tội nghiệp. tình duyên như thế có để làm gì, chỉ càng thêm tủi nhục, đắng cay. cách dùng từ giản đơn mà vẫn vô cùng độc đáo đã cực tả nỗi niềm của tác giả. Hồ xuân hương ngang tàng, thisch thức ầy nổi loạn trên là thế, nhưng cuối cùng tất cả vẫn chỉm vào vôn vọng sựt lực tột c cùng và cháng, mệt mỏt. những cố gắng vùng vẫy của bà chỉ là vô ích, bởi phận của bà vốn đã là một bi kịch và mãi mãi chỉ là bi kịch mà thôi. có lẽ trong giờ phút ấy, bà đã muốn buông xuôi, muốn bỏ mặc cho tất cả số phận đưa đẩy, bà đã mất hết hi vọng. “Giọt nước mắt em … âm thầm Buông rơi, đêm sầu ơn côi … trong tim em ôm trọt một nỗi sầu bơ vơ … đành khóc vậy thôi…” Liệu hồ xuân hương có thể vượt qua tất cảt cảt cảt trở lại là một người phụ nữ yêu đời mạnh mẽ, không sợ gì cả như ngày nào? Đó vẫn là câu hỏi còn dở dance của người phụ nữ đem thân đi làm lẽ, phận người mà hạnh phúc không bao giờ trọn vẹn mà chỉ nhỏ nhoi như mảnh gương vỡ. câu thơ diễn đat sâu sắc đỉnh điểm, bi kịch của hồ xuân hương và cũng là của người phụ nữ thời bấy giờ.

đó là những hiện thân cho những khổ đau của with người trong xã hội xưa, ồng thời là kết tinh của những ức tíh tốt ẹp của ng ười phụ nữ vi -nam qua h. Trong cả hai bài thơ là hình tượng người pHụ nữt nam chịu nhiều đau ớn, tủi cực dưới chế ộ pHong kiến ​​nhưng ở họ toát lên sự ấu tranh tranh mạnh mẽ, vượt lên số phụ nữ trong gia đình, một người phụ nữ dám vượt lên trên đớn đau để tìm hạnh phúc mà mình hằng khao khát.

bài mẫu 4: hình ảnh người phụ nữ việt nam qua bài thơ tự tình ii và thương vợ mẫu

trong những năm từ thế kỉ mười bảy ến cuối thế kỉ mười chín, dưới sự suy tàn mục nát của chếa ộ phong kiến, số phận người phụ nữ bị gần kiến “trọng nam khinh nữ” hà khắc. Họ phải chịu chói buộc trong chế ộ ộ xã hội nam quyền ộc đoan, đa thê … cùng với sự ap ặt của lễ giáo pHong kiến: “tam tam tam, tứ ức” (tam tòng là: tại gi -tmt gi gi -tm, xgud gi -gtmng tạng gi -gt gi -t, xgud gi -t, xgud gi -gtmng tạng gi -gt gi -tmt gig gig gig gi -gtmtg, xgud gi -gtmt) phu, phu tử tòng tử ; tứ đức là: công, dung, ngôn, hạnh). họ hầu như không có quyền quyết định cuộc đời mình mà phải an phận, phục tùng và cam chịu. vì thế, họ gặp rất nhiều đau khổ trong cup sống, tình duyên thì lận ận, phải chịu cuộc ời làm lẻ, làm thiếp choc người ta … thơ đã thay họ ứNg lên nói lên nói trong đó có hồ xuân hương với “tự tình ii” và trần tế xương cùng “thương vợ”.

hai tác phẩm trên là lời khẳng định về nét đẹp của người phụ nữ việt nam trong chế độ xưa. họ ều là những con người đa tài, đa sắc như hồ xuân hương đã gọi “hồng nhan” hay là tảo tần, thủy chung, và giàu Ựơng tu xlhc hi sinh

nếu như bà chúa thơ nôm với cái tài và cái ngông của mình dÁm thác với cả trời ất, thiên nhiên ể nói lên cái ẹp ủa cái c.

“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồntrơ cái hồng nhan với nước non”(tự tình ii ii)

thì đến với tú xương lại thể hiện tâm thế và vị thế của một người mẹ hiền một người vợ đảm. vì chồng, thương with mà bà cam chịu với cuộc sống khó khăn, vất vả:

“lặn lội than cò khi quãng vắng eo sèo mặt nước buổi đò đông”

(thương vợ)

nhưng dân gian ta đã có câu: “hồng nhan bạc phận”. hồ xuân hương càng thể hiện cái tài, cái hồng nhan bao nhiêu thì lại càng làm nổi lên tâm trạng buồn đau, oán hận, cô độc đv. sự bẽ bàng, tủi hổ của hồ xuân hương nói riêng cũng chính là của người phụ nữ việt nam trong thời đại ấy nói chung.

những with người hạnh phúc ít ỏi, duyên nợ hẩm hiu: “vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”. tuổi xuân thì qua đi mà hạnh phúc vẫn không trọn vẹn như vầng trăng đến lúc xế bóng mà vẫn chưa tròn. mang que phận của một người vợ lẻ, tình yêu thì bị chia năm sẻ bảy chỉ còn lại tí con: “mảnh tình san sẻ tí con con”. hồ xuân hương đã nói lên nỗi lòng của mình trước cái bất công của xã hội phong kiến. còn với tres xương, ông ứng trên phương diện từ người đàn ông, người chồng, người with ể ể thể hiện sự cảm thông, thương xót cho số phậa người phụ nữ nữ

“một duyên, hai nợ âu đành phậnnăm nắng, mười mưa dám quản công”

câu thơ vừa nói lên ức hy without cao quýa người phụ nữ mà cụ thển ở đây là bà you, lại vừa thể hi hi sự cam chịu trước số pHận của mình. nếu như đứng ở góc độ đạo lý, ta thấy rằng sự cam chịu của bà tú chính là việc bà đang tuân thủ theo bổn phận làm làm cm m. Thế nhưng, Theo Góc ộ Tình cảm, ta thấy, việc bà tu cam chịu, hello Sinh tất cả vì chồng vì with thì ở bà lại hiện lên vẻ ẹp Truyền thống của người phụ nữ việt nam. Đó chính là sự đảm đang, chịu thương chịu khó, đức hi sinh âm thầm vì chồng vì con.

cảm thông trước sự vất vả của người vợ, tú xương đã lên tiếng oán trách thói đời, trách xã hội bất công:

Tham khảo: Giáo án Thơ: Đoàn tàu lăn bánh

“cha mẹ thói đời ăn ở bạccó chồng hờ hững cũng như không”.

nói là trách đời nhưng thực ra qua hai câu sau ta thấy rằng ông đang trách mình. he mình đã không làm đúng vai trò của một người chồng. câu thơ nói lên tiếng lòng của trần tế xương đối với người phụ nữ. vừa là lời cảm thông, vừa là sự bênh vực. Còn với hồ xuân hương, ta lại thấy cr lời oan trach táo bạo, giận cuộc sống đã ưa người phụ nữ vào chỗ lẻ loi, cô ơn, hiu hắt: “Oan giận trông ra kh ắi n). Xã hội thối nát, người ời bạc bẽo vô tâm: “sau giận vì duyên ể mỏi mòn” (tự tình II i). ằng sau sự oan trach đó, là sự khát vọng v à vươn lên, không ể phục:

“xiên ngang mặt đất rêu từng đámĐâm toạc chân mây đá mấy hòn”(tự tình ii ii)

bằng những ộng từ mạnh như “xiên”, “đâm”, kết hợp với bút phÁp tu từ ảo ngữ càng nhấn mạnh sức phản kháng mãn khá vệt v. Và điều này cũng là nét ặc sắc của thơ hồ xuân hương.tuy ứng ở hai khía cạnh, hai góc nhìn khác nhau vềi người pHụ nữ, nhưng cảng cả hai tám “t ề ề ề ề thống của người pHụ nữ việt nam. ế ế ế ế ế ế ế ế. những ước mơ. hai tác phẩm ều phản ánh khát vọng vươn lên làm chủ của người phụ nữ, bênh vực quyền sống, khát vọng hạnh phúc, thể hiện tígnh nhân vă sâu sắc. phẩm chất truyền thống ẹp ẽ ẽ đó đã trở thành nét ẹp ương ại với phụ nữ việt nam ngày nay: “giỏi việc nước – ảm việc nhà”.

bài mẫu 5: hình ảnh người phụ nữ việt nam qua bài thơ tự tình ii và thương vợ mẫu

từ bao giờ đến bây giờ, từ homer đến kinh thi, đến ca dao việt nam, thơ vẫn là một sức đồng cảm mãnh liệt và quảng . nó đã ra đời giữa những vui buồn của loài người và nó sẽ kết bạn với loài người cho đến ngày tận thế” (hoài thanh). có thể nói, đó chính là sự trường tồn bất diệt của thơ văn.

và ta càng thấy sức lan tỏa của nó mạnh mẽ hơn khi đến với ngòi bút nhân đạo của người nghệ sĩ trong thơ ca trung đại. nổi bật lên trong những trang viết thấm nhuần tư tưởng ấy chính là hình ảnh người phụ nữ.

bằng sự ồng cảm nơi sâu thẳm tâm hồn, nhiều tac pHẩm ra ời chính là sự lên tiếng của nhiều nhà thơ nói thay cho tâm sự thầm kín của người phụi ” của hồ xuân hương và “thương vợ” của trần tế xương.

ọc những vần thơ ấy, ộc giả không khỏi step ộng trước tình cảnh éo le, trớ trêu, những bi kịch đau thưh chị gán và và fo lẽ chính bởi từ đ p>

mỗi bài thơ ều ược thể hiện bằng phong cach riêng nhưng nổi bật lên là hình ảnh người pHụ nữ tiềm ẩn bao vẻ ẹp, tài nĂng và pHẩt đáng trọng. nhưng trong xã hội phong kiến ​​mục nát ấy, mọi quyền lợi mà họ đáng được hưởng lại bị tước đoạt.

có thể khẳng định rằng, người phụ nữ việt nam trong xã hội xưa đẹp người, đẹp nết. họ mang một vẻ thuần khiết, trắng trong, có nhan sắc:

“thân em vừa trắng lại vừa tròn”(bánh trôi nước – hồ xuân hương)

và ta cũng bắt gặp hình ảnh một người vợ đảm đang, yêu thương gia đình:

“quanh năm buôn bán ở mom sôngnuôi đủ năm con với một chồng”

bà tú là người rất mực chăm lo cho chồng con, bà nuôi cả gia đình nhưng cuộc ssống luôn đầy đủ, không để ai phải đói rách. mọi người được ăn no mặc ấm, tiêu pha đủ. qua đó, ta thấy bà đã làm tròn trách nhiệm với cương vị là người vợ, người mẹ trong gia đình.

ọc ến đây, hình ảnh “vũ nương” trong “chuyện người with Gái Nam xương” và hiếu thuận với mẹ. dường như đây cũng là sự đồng điệu giữa hai tâm hồn của hai thế hệ nhà thơ nguyễn dữ và tú xương. qua đó càng làm nổi bật lên vẻ nết na, đảm đang của người phụ nữ.

nhưng bên cạnh đó là những khổ cực, vất vả mà đôi vai yếu mềm phải gánh chịu. Ối với người with Gái, Tuổi xuân là thứ đáng quý nhất trong cup ời nhưng hồ xuân hương chưa fo ược một hạnh phúc trọn vẹn thì nó đã qua đi nhanh chón, has <ph , <phá, <phi-gian, <phi-gia, </p.

“Đêm khuya vẳng vẳng trống canh dồntrơ cái hồng nhan với nước non”

Đã đêm khuya mà bà vẫn thao thức. tâm trạng rối bời trước nhịp đập của tiếng trống dồn dập hay cũng chính là bước đi của thời gian. cái cô đơn lạnh lẽo cứ bủa vây và dường như mỗi giây phút đi là tâm trạng được đẩy lên một bậc.

càng đau đớn xót xa biết bao khi người con gái đã quá lứa, lỡ thì mà tình duyên vẫn chưa trọn vẹn:

“chén rượu hương đưa say lại tỉnhvầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”

cuộc ời chính bản the của bà đã trải qua bao truân chuyên, sóng gió, hai lần phải làm lẽ và không những chỉ có vậy mà cả hai lồngu b ch. từ đó ta càng không thể phủ nhận một qui luật trong xã hội xưa: tài hoa bạc mệnh. một người có tài năng như bà lại vướng phải bi kịch tàn khốc, đau thương.

bởi thế, bà chỉ còn biết nhớ đến “chén rượu”. vì men rượu – hương nồng đắng cay sẽ làm cho người ta say mà quên đi cay đắng! Đến một người phụ nữ cũng phải độc ẩm trong đêm khuya quả là một niềm đau xót. nhưng ella “say rồi ella lại tỉnh”, đâu có thoát khỏi vòng quẩn quanh, bế tắc của tâm trạng de ella. she tỉnh ra càng chua xót, đắng cay hơn bội phần.

cả cup ời bà, cuộc ời của một người luôn khao khát sự trọn vẹn, yên lành trong hạnh phúc lứa đôi nhưng nào bao giờc fi ược “vầng trart. “chưa tròn. qua đó càng khiến nỗi lòng của người cô phụ se thắt lại- nỗi buồn dai dẳng, xa vắng lan tỏa khắp tâm hồn.

người phụ nữ chịu bao khổ đau, bị xã hội đưa đẩy mà không tự quyết định được cho số phận của mình:

“bảy nổi ba chìm với nước nonrắn nát mặc dầu tay kẻ nặn”(bánh trôi nước)

“một duyên hai nợ âu đành phậnnăm nắng mười mưa dám quản công”(thương vợ)

lấy chồng duyên chỉ “một” mà nợ thì nhiều. người vợ phải gánh vác công việc trong gia đình. với thân phân nhỏ bé, đơn chiếc nhưng họ luôn bất chấp nguy hiểm, cực khổ để nuôi sống gia đình.

người vợ lại đóng vai trò là trụ cột. họ vì mưu sinh cuộc sống mà phải lam lũ, vất vả, dãi nắng dầm mưa, lặn lội kiếm ăn:

“lặn lội thân cò khi quãng vắngeo sèo mặt nước buổi đò đông”

your một mình thân gai nhỏ bé, yếu ớt phải lặn lội khắp nơi, bươn bả trên sông nước không có ai trợ giúp, ần cho bà nơi hiểm nguy sông n ước. bởi thế kiếp sống long đong lận đận của người phụ nữ ấy, tác giả đã đồng nhất với hình ảnh de ella thân cò lặn

sau bao đau xót, tủi nhục dường như vẫn trỗi dậy:

“xiên ngang mặt đất rêu từng đámĐâm toạc chân mây đá mấy hòn”

Ở đây, thiên nhiên cũng bừng lên với tâm trạng with người. “Rêu” vốn là sinh vật nhỏ bé, yếu mềm và “đá” là sự vật vôn nhưng dưới with mắt của mình, “Bà chúa thơ nôm” cũng thấy chúsg muốn chứng tỏc sốc c , “đâm toạc” mặt đất, chân mây. sự vật mà còn có thể huống chi là người? tại sao with người lại bi quan như thế?

và ta cũng nhận thấy được sự táo bạo trong thơ hồ xuân hương:

“ví đây đổi phận làm trai đượcthì sự anh hùng há bấy nhiêu”

bà luôn khẳng định mình, bất chấp số phận giàng buộc của xã hội phong kiến.

người vợ trong thơ tế xương cũng vậy, bất chấp hoàn cảnh mà vươn lên. ella không lời phàn nàn trách móc, oán hận mà giàu lòng vị tha và đức hi sinh.

“năm nắng mười mưa dám quản công”

vâng! người phụ nữ việt nam là thế. Ở họ ella chứa đựng những cảm xúc suy tư từ cuộc đời thực của mình. nhưng tất cả đều mang những phẩm chất, tài năng đáng quí.

qua hai bài thơ ta càng thấy ánh lên những hình ảnh cao đẹp của người phụ nữ thời xưa. họ như những tia sáng hào quang lan tỏa đến tâm hồn bạn đọc ở bao thế hệ. và như thế, thơ ca đã bắc nhịp cầu kết nối những trái tim cùng đồng cảm, cùng sẻ chia.

văng vẳng đâu đây, dường như ta vẫn nghe được dư âm:

“cha mẹ thói đời ăn ở bạccó chồng hờ hững cũng như không”

nỗi đau của người phụ nữ, nỗi buồn của một kiếp người. nhưng ánh sáng lan tỏa từ phẩm chất cao đẹp của họ sẽ len lỏi đến trái tim độc giả muôn đời.

hình ảnh người phụ nữ việt nam qua bài thơ tự tình ii và thương vợ mẫu 6

việt nam là một trong những quốc gia có chế độ phong kiến ​​​​kéo dài hàng ngàn năm lịch sử. Không chỉ vậy do chịu sự đô hộ triền miên của các quốc gia pHương bắc mà nền văn Hóa của nước ta cũng chịu nhiều ảnh hưởng, Trong đó thấy rõ nhất ấy là sự ự ọ ự ự ự đàn ông. ẶC Biệt là tưng trọng nam khinh nữ, c cùng với những quy tắc hà khắc viết Trong Các Cuốn kinh vă như nữ giới đã khiến người phụi chịu nhi nhi ề Thòt. trong văn học trung đại việt nam hình tượng người phụ nữ đi vào các tác phẩm không nhiều, nổi bật nhất có truyện kiều của nguyễn du, là tác phẩm kinh điển, không chỉ phản ánh số phận của người phụ nữ mà phản ánh chung cả số phận của những con người thấp cổ bé họng dưới chế độ phong kiến ​​hà khắc, với những tư tưởng nhân đạo ngoài ra, không thể không nhắc đến hồ xuân hương với chùm thơ tự tình nổi tiếng, nhà thơ chuyên viết về phụ nữ, bởi chính bản thân bà cũng trải qua nhiều nỗi bất hạnh trong tình yêu, hôn nhân, vì tư tưởng đi trước thời đại. Và một trần tếng với thương vợ, bất mé trước thời cuộc, bất ắc chí trong ường công danh, khi nhìn người vợ nắng mưa tọo tển nuôi cả gia đm cảm cho ng Chung quy lại nhìn thấu suốt tự tình II và thương vợ ta nhận ra rằng cuộc ời người pHụ nữ trong chế ộ phong kiến ​​chỉ đi vòng quanh một chữt hạnh khác nhau của họ.

trước hết nói về hình tượng người phụ nữ việt nam trong tự tình ii của hồ xuân hương. “Tự tình” tức là tự nói về những tâm tư tình cảm của bản thn, có thể nói rằng từng câu chữ mà nữ sĩ viết thn thn ều là ể nói về cai cuộc ời ời Hồ xuân hương là người pHụ nữco nhan sắc, lại thông minh, rất giỏi thơ từ ca pHú, giao thiệp rộng, she cũng từng rất trông ợi vào cutc sống hôn nhân mỹ m. thế nhưng cor vẻ tưng của hồ xuân hương và những with người ở thời ại ấy không hề Ăn khớp với nhau, bà lấy người chồng thứ nhất là ông tổng tổng coc, dẫu ô riêng có một việc ấy là ông cũng là người nổi tiếng đào hoa. Hồ xuân hương về làm thiếp, thế nhưng her cũng chẳng thể chịu nổi cảnh chồng tam thê tứ thiếp bảy cô hầu, còn mình of her thì cứ vò trông ợi chút tình cảm củm củm củm củm cảm cảm cảm c. She Lần Thứ hai she kết hôn, she cũng chẳng mấy khá khẩm, she lấy ông pHủ vĩnh trường, dẫu she ược chiều chuộng yêu thương, nhưng el cũng lại là thứ thiếp, sao tráh kh ảhh. She không biết ược rằng nữ sĩt vựt tự tình II khi nào, nhưng her cũng chỉ tó gọn mấy chữ về cup ời bất hạnh của bà ấy là nỗi khổ chồng chung.

viết hai câu thơ ầu rằng “đêm khuya văng vẳng trống canh dồn/trơ cai hồng nhan với nước non”, ấy là cai cảnh người “hồng nhan” tus chồng, thì bà lại chán chường ngồi giữa khuya thanh vắng, đếm thời gian trôi qua từng tiếng “trống canh dồn”. cai tiếng trống canh ấy vừa đánh vào trai tim cô ơn của người phụ nữ, vừa nhắc nhởc bước đi của thời gian, trời đã khuya lắm rồi sao người to thng atng to thng atng to thng to thng atng atn. từ tiếng trống giục giã ấy, người thiếu phụ như thức tỉnh trước những nỗi sầu ơn ộc, nhận thức riqu ràng can thân bẽ bàng của mình. ella chỉ một từ “trơ” thôi nhưng ella biết bao nhiêu tủi hổ, bao nhiêu trơ trọi, lẻ loi, lạnh lẽo giữa trần đời de ella. thế nhưng hồ xuân hương là một người pHụ nữ có bản lĩnh, cai từ “trơ” ấy còn là biểu hiện của sựn dạn dĩ, trơ lì với những Thisch thức, những quy luật nghiệt . Không chỉ nhận thức về sự cô ơn, trống trải, trọi của mình mà hồ xuân hương còn ý thức rất sâu sắc về thân pHận của người làp, mãp, mãp, mãp, mãp, mãp, mãp, mãp, th’s thế , thếp, mãp, thếp, mãp, thếp, mãp, mãp, mãp, mãp, mãp, mãp, mãp, mãp, mãp, mãp, mãp, mãp, mãp, mãp, mãp, mãp, mãp, mãp, mã à àp , m. Với từ “cai” ôi chao sao nó lại rẻ rung, tầm thường ến thế, điều ấy đã gợi nhắc ta về về vai trò v ịa vị thấp kém của người phụi nữi chế ộ ộ ộ ộ ộ ộ ộ ộ ộ ộ ộ ộ ộ ộ ộ ộ ộ Có một câu mà ta vẫn thường nghe “anh em như chân tay, phụ nh như quần áo”, áo cũ rồi lại thay, chỉy thấy người mới cười chứ đ đu ai thấy người cũ khóc. TưNG TRọNG NAM KHINH Nữ, đàn ông ượC PHÉP TAM THR nhục. she dẫu she có giỏi giang, tài sắc như thúy kiều, như hồ xuân hương nhưng nào cũng có được hạnh phúc đâu?

“Chén rượu hương ưa say lại tỉnh/vầng trăng bong xế khuyết chưa tròn”, dẫn ta đi sâu vào nỗi buồn khổ, côn của người thiếu phụn rượu giảu ảu, c. những tưởng say rồi là her sẽ quên hết những đau ớn về ththn phận bất hạnh, quên hết nỗi ghen tuông chồng, nhưng không cai vòng lặp “say lại tỉng” nhấn mạnh một điều rằng, nếu cứ còn mãi cai chế ộ phong kiến ​​bất công này thì người phụ nữ vẫn cứ pHải chịu cai vòng luẩn quẩn khổ sở bất hạnh trong kiếp chung chồng chồng chồng chồng chồng hôn nhân đầm ấm hạnh phúc. “vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”, gợi nhắc về một cuộc ời hồng nhan phí hoài trong những đêm dài ằng ẵng chồng, nay đn hết thế nhưng cai mà họ mơ ước thì mãi còn ở ngoài tầm với, mãi vẫn “khuyết chưa tròn”, bởi người phụ nữi dưới chế ộ ộ phong kiến ​​thì kiếm đâu ra một tấm hạnh Hồ Xuân Hương Chính Là điển Hình Cho Hình ảnh Này, Bà Có Hi ời chồng, cả hai lần ều làm thiếp, dẫu tài sắc thế nhưng her vẫn phải chịu cảnh sẻ Chia chồng chồng chồng chồng chồng chồng chồng chồng chồng chồng chồng chồng chồng cho Không chỉ vậy, ở cuộc hôn nhân sau bà her lại càng bất hạnh, đã làm thiếp, mà hưởng cuộc sống vợng chồng chưa lâu thì ông phủ vĩnh trường cũng đi ời ời ời ời ời ời ờ thử hỏi còn có cái bất hạnh, chán chường nào hơn nữa không?

và chắc chắn rằng không chỉ mình hồ xuân hương sắc sảo, cor suy nGhĩ chống lại số pHận, kiếm tìm hạnh phúc màc lẽ cũng có rất nhiều người pHụ nữ n “Xiên ngang mặt ất rêu từng đam/đâm toạc chân mây đá mấy hòn” phuc của minh. DẫU Họ CHỉ CÓ THể Có vị trí như loài “rêu” yếu mềm, như hòn đá vôi hại, cam chịu, nhẫn nhục, thế nhưng sức mạnh tâm hồn của họ là không thể chối cãi. hai câu thơ ấy của hồ xuân hương thể hiện rất rõ cai khao khát, ý chí stoot khỏi sự kìm kẹp của sẽ hội, đòi quyền công bằng, bã một cách mãnh liệt của người phụ nữ. thế nhưng mơ ước ấy của pHụ nữ trong xã hội cũng như là điều viển vông, trong mắt những người đàn ông thhm chí là nực cười và trai với pHụ ạa đa ôa ô đa đa ôa. thế nên dẫu có khao khát mãnh liệt, có muốn phản kháng đến từng nào rồi cũng bị cái xã hội này đàn áp. chẳng phải hồ xuân hương dẫu đanh đá, xéo xắt, thông minh nhưng ella cũng chẳng có nổi cho mình một thân phận vợ cả đấy sao? Đàn bà thuở ấy cuối cùng vẫn phải quay về với mấy chữ “tam tòng tứ ức”, “công dung ngôn hạnh”, và bị mấy chữ “tam tam. thế mới có mấy câu thơ “ngán nỗi xuân đi xuân lại lại/mảnh tình san sẻ tí with”, bà đã chán ngán cai cảnh từng mùa xuân ến rồi lại ồi ồi sản quý giá nhất của người phụ nữ, nay đã nhạt phai ai lại không chán ngán, buồn rầu cho đặng. và đáng thương nhất vẫn là những người phụ nữ chịu kiếp chồng chung, phận thứ thiếp lại càng thiệt thòi, bởi vốn dĩ đ ông trong xã hội cũn chuhng xường trọn nnhn nn. Ấy vậy mà cai , buồn bã, u uất.

nếu nỗi khổ của thân pHận pHụ nữ dưới cai nhìn của hồ xuân hương là nỗi khổ hành hạ trong tinh thần, trong tâm hồn là nỗi uất ức Cay ắng vì không ược h. thì trong thương vợ tú xương lại nhìn thấy nỗi vất vả của người phụ nữ trong công việc lao động mưu sinh. ẶC Biệt Là Khi Họ ượC Gả Vào Một Gia đình Không mấy khá giả, người chồng không biết ỡ ầ ần, lại đông with thì cuộc sống càng thêm khó nhọc bội. Điển hình cho kiểu mẫu pHụ nữ ấy chynh là bà you, ược gả cho ông you từ khi ông 16 Tuổi, và từ đó trởi đi cuộc ời bà chỉm nằm quanh việc kiếng,, this cử.

nỗi vất vả của bà tú được thể hiện ở trong 6 câu thơ đầu của bài thơ thương vợ.

“quanh năm buôn bán ở mom’s song

nuôi đủ năm with với một chồng.

lặn lội thân cò khi quãng vắng,

eo seo mặt nước buổi đò đông.

một duyên, hai nợ, âu đành phận,

năm nắng, mười mưa, dám quản công”

bà your là một người pHụ nữ yếu đuối, thế nhưng phải làm những công việc vất vả, quanh năm suốt that arm dường như không hềc leo lại lắm thuyền bè đi lại. sở dĩ bà tres pHải bôn ba như vậy là vì ở nhà còn có 6 miệng ăang chờ bà nuôi, một đàn 5 ứa with đang Tuổi Ăn tuổi lớn, lại thêm một ông chồng “dài lưng tốn vải”. NếU NHư CHồNG NGườI COR THể CHUNG TAY LAO ộNG, SAN Sẻ, THì CHồNG Bà LạI TRở Thành Gánh NặNG, đè nặng lên đôi vai của bà, khiến bà Càng thêm khó nhọc Trong tong cú. tuy vất vả, ap lực là thế nhưng bà tres vẫn ” hiện cai sự chịu khó, ảm đang, this hình tượng with cò đ đng xu catht hi. diện cho sự khổ cực, lầm lũi, cô đơn và vô cùng tội nghiệp của người lao động, đặc biệt là người phụ nội cã hứ. Đó là nỗi vất vả mà bà tu pHải gánh chịu trong cup hôn nhân với ông you, thế nhưng thati ộ của bà khi ối diện với những điều ấy lại khiến người có thể nói rằng, việc gả cho tú xương, ối với bà tú là thiệt thòi lớn, bởi ông chồng ấy nói thật rằng trong cuộc ời này qu. American soldier. Thi cử hỏng cả 8, lần cuối ậu rớt ta tài, nhà của tài sản cũng chẳng có gì, đã thế lại là người cố chấp với ường công danh, là bậc tri ứcn khng. Điều ấy buộc bà tres pHải ứng ra làm trụt cho cả gia đình, cai duyên vợ chồng với ông tu tu tu chỉ có một, nhưng mà cai thế nhưng bà chưa bao giờ than vãn, nề hà gì mà ella vẫn vui vẻ chấp nhận “âu đành phận”, xem như đó đã là cái phận trời định. Đặc biệt là dù ella có khổ cực, vất vả đến mức nào “năm nắng, mười mưa” ella bà ella cũng chưa từng “dám quản công”. từ những điều trên ta nhận ra rằng bà tu là người pHụ nữ có tấm lòng vị tha và ức Hy Sinhing c ca, điều ấy xuất phát từm lòng and thương chồng with sắc, m. Bà your chính là hình mẫu ại diện cho người phụ nữt nam dưới chế ộ cũ, chịu thương chịu khó, nhẫn nhịn, chịu ựng, nhân hậu, bao dung và vông yêu thương gia đình

kết lại từ tự tình II và thương vợ ta thấy hình tượng người phụ nữ việt nam hiện lên với một ặc trưng chynh đó là chịu nhiều thiệt thòi và v ất vảt vảt vảt. Trước hết vềi sống tinh thần thì she phải chịu nhiều ap lực từ ịnh kiến ​​xã hội, không cor quyền mơ ước hạnh phúc, pHảu cảnh chung chồng, Tuổu ân nh ợtnh. không chỉ vậy họ con mang trong mình tính cam chịu, nhẫn nhịn, tần tảo, chịu thương chịu khó, một lòng vì chồng con, không mộngh nà Bên cạnh đó ta thấy ược nhưng vẻ ẹp rất đáng quý trong tâm hồn người phụ nữ ấy là sự bao dung, ức Hy sinh cao cả, tấm lòng khao khát hạnh phúc, sự thông minh minh tài gi kém gì bậc nam nhi.

hình ảnh người phụ nữ việt nam qua bài thơ tự tình ii và thương vợ mẫu 7

văn thơ trung đại việt nam, nhất là các tác phẩm viết bằng chữ nôm nói nhiều đến tình yêu và số phận người phờ cu trong. Hồ xuân hương và tu xương, qua “bánh trôi nước”, “tự tình” – bài II, “thương vợ” đã làm hiện lên hình ảnh người phụ nữ việt nam thời xưa với bao ấ mac man.

Bài Thơ “Bánh Trôi NướC” Có Hai Lớp NGHĩA: TảCC Chiếc Bánh Trôi, Một Món Ăn dân tộc và tượng trưng choc chẩm chất tốtt ẹp của người with gai quê ta. chữ “trắng” và chữ “tròn”, hình ảnh nhân hoá “thân em” đã thể hiện vẻ đẹp khiêm nhường, dịu dàng, trinh trắng và duyên dáng của “em”. tuy tình yêu và số pHận bị pHụ Thuộc vào lễ giáo pHong kiến ​​và ạo tam tòng, vào “tay kẻ nặn”, dù “rắn nát”, dù vất vả, lận ận, long đong, trải qua ” “, NHưNG em vẫn kiên trinh, sắt are. vi. “bánh trôi nước” là bức chân dung nghệ thuật với hai gam màu “trắng” và “son” tuyệt đẹp:

“thân em vừa trắng lại vừa tròn,

bảy nổi ba chìm với nước non.

rắn nát mặc dầu tay kẻ nặn,

mà em vẫn giữ tấm lòng son”.

chùm thơ “tự tình” bài của bà chúa thơ nôm, ặc biệt biệt bài thơ thứ hai,

người phụ nữ ấy thao thức giữa đêm khuya, một mình một bóng đang lắng nghe tiếng trống dồn “văng vẳng” từ một chòi canh xa. she thao thức vì cô đơn, vì lẻ bong. rượu và trăng cũng không làm vợi đi bao nỗi buồn chồng chất, đang đè nát cõi lòng. “chén rượu hương ưa” cứ ngỡ có thể làm say ể ể quên đi bao nỗi buồn chứa chất tâm hồn, cố uống cho, nhưng “say lẺnh” Ừ buỪ buồn cho tình duyên lẽ mọn! Trơi ngắm “vầng trăng bong xế”, ngắm mãi ngắm hoài mà trìng kia vẫn “khuyết chưa tròn”, hạnh phúc màng monong ợi chỉ là “một than that đôi lần cũng khô.

trong bi kịch tình duyên, người đàn bà lẽ mọn cố vùng vẫy bươn ra nhưng thoát sao được. Dù có “xiên ngang mặt ất”, dù có “đâm toạc chân mây”, nhưng đám rêu kia, mấy hòn đá nọ cũng không thể n, thay ổi ược cảnh náng ộ đng, ươg, ậg, ậg, ậg, ậg, ậ đtng, đng, đtng, đtng, đtng, đtng, đtng, đtng, đtng, đtng, đg. p>

“xiên ngang mặt đất, rêu từng đám,

Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn”.

phép ảo ngữ trong hai câu thơ không chỉ làm nổi bật cái dữ dội tiềm ẩn của thiên nhiên mà còn tô ậm sựn kháng duyên ỿn phn sốn,

thời gian chẳng mang lại hạnh phúc cho nàng. mùa xuân cũng chẳng đem lại niềm vui gì cho nàng, mà nỗi chán ngán, đau khổ de ella cứ chồng chất mãi thêm. Mùa xuân đi qua rồi mùa xuân lại trở lại, tổi mỗi ngày một cao, nhan sắc ngày một phai tàn, nhưng tình yêu và hạnh phúc chỉc “San sẻ tí with” mà thôi! That’s what’s happening! thật tội nghiệp. tổng cóc và ông phủ vĩnh tường cũng chẳng mang lại cho nàng chút hạnh phúc nào! hai câu kết đã cực tả nỗi đau khổ trong bi kịch tình yêu của hồ xuân hương:

“ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,

mảnh tình san sẻ tí con con!”

Đang xem: GIÁC CHÚNG SANH HỮU TÌNH – NGỘ NHẬP PHẬT TRI KIẾN

“tự tình” – bài ii không chỉ nói lên nỗi đau khổ cô ơn mà còn thể hiện niềm khao khát tình yêu hạnh phúc của ngưộ ng ời đn tro thật sâu sắc.

tú xương có bài “văn tế sống vợ”; ông còn có bài “thương vợ” với cảm hứng chủ ạo là tình thương, lòng quý trọng, biết ơn của ông ối với người vợth she bà buôn bán tần tảo ở mom sông suốt quanh năm, không có một ngày ngơi nghỉ. một gánh nặng gia đình được bà “nuôi đủ”:

“quanh năm buôn bán ở mom’s song,

nuôi đủ năm with với một chồng”.

nhờ sự đảm đang, tháo vát của vợ mà ông tú tuy “ăn lương vợ” nhưng khá phong lưu:

“cho hay công nợ âu là thế,

mà vẫn phong lưu suốt cả đời.

tiền bạc phó cho with mụ kiếm,

ngựa xe chẳng thấy lúc nào ngơi”

(tự cười minh)

hình ảnh “thân cò” là một sáng tạo của tú xương để nói về sự làm ăn vất vả, khó nhọc của bà tú. cặp từ láy: “lặn lội” và “eo sèo” đã cực tả nỗi gieo neo, đức tính chịu thương chịu khó của người vợ, người mẹ trong

“lặn lội thân cò khi quãng vắng,

eo seo mặt nước buổi đò đông”.

bà tú con là hiện thân của đức hi sinh thầm lặng. bà cam chịu, kiên nhẫn về duyên phận from her. Các Thành ngữ “Một Duyên hai nợ”, “năNg mười mưa” kết hợp với các từ ngữ “âu đành phận”, “dám quản công” cho thấy ức hạnh, tâm hồn của bà thật. bà đã sống hết mình vì cuộc sống và hạnh phúc của de ella chồng with:

“một duyên hai nợ âu đành phận,

năm nắng mười mưa dám quản công”.

hai câu kết là lời nhiếc của bà tú cũng là lời tự trách mình của nhà thơ:

“cha mẹ thói đời ăn ở bạc,

có chồng hờ hững cũng như không”.

“không” là không giàu sang phú quý, không được “võng anh đi trước, võng nàng theo sau” như các bà nghè khác. “không” là không được sống trong cảnh vinh thân phì gia “tối rượu sâm banh, sáng sữa bò” như vợ của các thầy kí, thầy phán khẝy.

tú xương tuy tự trách minh, nhưng ông đã nói lên tất cả tấm lòng quý trọng và biết ơn đối với người vợ hiền y thƥc thỰ. hình ảnh bà tu trong bài thơ “thương vợ” là hình ảnh của một người pHụ nữt việt nam với bao pHẩm chất tốt ẹp như ảm đang, tầo tảo, chịng chịu khó ứp.

qua các bài thơ “tự tình” – Bài II, “Thương vợ” người ọc thấy ược phẩm chất của người pHụ nữ việt nam, càng biết ơn và tự hào về người mẹ, người chịi chị đình chúng ta. Đúng như huy cận đã viết:

“chị em tôi toả nắng vàng lịch sử,

nắng cho đời nên cũng nắng cho thơ”.

hình ảnh người phụ nữ việt nam qua bài thơ tự tình ii và thương vợ mẫu 8

thời đại phong kiến ​​với quan niệm trọng nam khinh nữ, người phụ nữ phải chịu đầy rẫy những bất công, oan trái củã ha x. thế nhưng họ vẫn luôn xinh đẹp, thùy mị, giàu lòng thương yêu và hết mực quan tâm đến mọi người, nhất là gia đình. ta có thể bắt gặp lại hình ảnh của họ qua các tác phẩm văn học dân gian và văn học trung đại việt nam. ẶC Biệt, Tự Tình II của hồ xuân hương và thương vợ của tế xương sẽ giúp chún ta hiểu rõ thêm phần nào về ththn phận người phụi nữi xưa dưới chế ộ ộ ộ ộ ộ ộ ộ ộ

hình ảnh ầu tiên của người pHụ nữt nam ược thể hi hi qa hai bài thơ đó là hình tượng người phụ nữ pHải chịu nhiều đau khổ, vất vả trong cuộc sống. với thơ hồ xuân hương, họ pHải chịu khổ về tinh thần vì cô quạnh, thiếu vắng tình yêu, không ược yêu thương và không làm chủ ược số pHận củnh. <.

“Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

trơ cái hồng nhan với nước non.”

không gian là đêm khuya thanh vắng, tiếng trống cầm canh vang lên như tăng thêm sự vắng lặng, tô đậm trạng thái cô đơn của hồơn xuân.n

“chén rượu hương đưa say lại tỉnh

vầng trăng bóng xế khuyết chưa tròn”

“chén rượu hương đưa” diễn tả tâm trạng về nỗi đau thân phận và tình duyên éo le, ngang trái đang bế tắc trong tâm trạng. rượu không phải là thứ để giải sầu vì “say” rồi lại “tỉnh”. thời gian “vầng trăng bong xế”

còn với bài thơ thương vợ của tế xương, hình ảnh bà tú vất vả, gian truân kiếm sống, tất bật ngược xuôi đượchin

“quanh năm buôn bán ở mom sông”

câu thơ đã nói lên một hoàn cảnh làm ăn vất vả, lam lũ của bà. Ở đây, bà tú làm việc vất vả suốt cả năm, không kể mưa nắng trên mom sông chỉ để cho gia đình có một cuộc sống ấm no, hạp.

“lặn lội thân cò khi quãng vắng,

eo sèo mặt nước buổi đò đông.”

với biện pháp tu từ đảo ngữ, tú xương đã mượn hình ảnh con cò trong ca dao để nói về bà tú. hình ảnh “lặn lội thân cò” đã khắc họa riqu nét chân dung bà tu vất vả, cực nhọc những nơi nguy hiểm vắng vẻ, cai nơi mà pHải dành choc nhườàn đ đ đ đ đ đ đ đ đ thế nhưng bà lại phải gánh lấy không một lời oán trách.

nhưng dù có vất vả, đau xót, Chán chường ến mức nào, thì người pHụ nữt việt nam xưa vẫn là những with ngườic , saw with:

“nuôi đủ năm with với một chồng”

ối với tự tình, hình ảnh người phụ nữ ược thể hi ở sức mạnh tâm hồn: dù ớn đau ến mức nào thì trong sâu thẳm trai tim bà, dù yết ết ến ế đ đ vọng, không chịu khuất phục mà muốn vùng lên đấu tranh thay đổi cuộc sống của mình:

“xiên ngang mặt đất, rêu từng đám

Đâm toạc chân mây, đá mấy hòn.”

Các ộng từ mạnh mẽ như “xiên ngang” – “đâm toạc” đã ược sửng dụng trong pHép ảo ngữ làm toát lên ược sức mạnh của sự sin tồn từn từn từn nhữn ật sự t. giữa mặt đất đầy đất và đá, đâu đó mọc lên một nhành cây con con, xanh tươi. với hai câu luận này, khát vọng sống và được sống, yêu và được yêu của nữ sĩ được thể hiện vô cùng mạnh mẽ.

“một duyên hai nợ âu đành phận,

năm nắng mười mưa dám quản công”

ngược lại, bằng nGhệ Thuật sử dụng thành ngữ Có biến ổi, tế xương đã miêu tả bà tu là một người vợ chịu thương, chịu khó, có ức hi sin tuy vất vả, cực nhọc nhưng she bà vẫn luôn chấp nhận và không bao giờ que phiền với chồng.

“cha mẹ thói đời ăn ở bạc,

có chồng hờ hững cũng như không.”

Đây được xem như là một lời tự trách mình, trách một cách nặng nề của tế xương. bà tú không hề coi chồng de ella là ăn ở bạc, nhưng ông tú thì gọi đích danh tội lỗi của mình ra như vậy. trách mình “ăn lương vợ”, mà “ăn ở bạc”. vai trò người chồng, người cha chẳng giúp ích được gì, vô tích sự, thậm chí còn “hờ hững” với vợ con, đồng thời cũng là bờ.>

tưởng chừng như canh cửa cuộc ời đang mở rach người phụ nữ và toàn thể phái ẹp trong xã hội phong kiến ​​một hạnh phúc và niềm tin mới, nữ sĩ hồ hươ hươ hươ hươ hươ hươ hươ hồ hồ hồ hồ hồ hề hề hề hề hề hề hề hề n ” cũng chính là hai câu thơ kết, vừa chua xót, vừa đắng cay của cuộc đời :

“ngán nỗi xuân đi xuân lại lại,

mảnh tình san sẻ tí con con!”

tâm trạng mong mỏi chờ đợi của người phụ nữ lại trở về khi ngày mới bắt đầu. quy luật của thời gian chính là chỉ trôi theo một chiều chứ không tương tác song song. xuân đến rồi xuân lại đi, ngày xuân hôm qua cũng chẳng giống ngày xuân hôm nay. người phụ nữ ấy vẫn mong chờt một ngày nào đó ược cảm nhận hạnh phúc trọn vẹn thật sự, bằng cả trai tim nồng cháy cảa người ối diện, ể nàng có cr thểt ượt vẹn toàn của tình yêu. thật không còn gì có thể diễn tả được nỗi đau đó.

thế NHưNG TRONG CAI Xã Hội Này, Ta Cũng Thấy ượC NHữNG NGườI PHụ Nữ ượC SốNG TRONG HạNH Phúc, ượC Sự QUAN TâM Và NHậN ượC Sự AND TO THÓG CủNG CLEG nói cho cùng thì bất kỳ ai, sống trong thời kỳ nào thì cũng có nỗi khổ riêng của chính họ mà thôi…

hình ảnh người phụ nữ việt nam qua bài thơ tự tình ii và thương vợ mẫu 9

hình ảnh người phụ nữ thời xưa đã đi vào trong những trang văn học của việt nam bằng những ngòi bút đầy tài năng. c cng viết về chủ ề ề người pHụ nữ, bài thơ “tự tình” của hồ xuân hương và “thương vợ” của trầ ến cho ộ ế ến xưa.

với bài thơ tự tình ii của hồ xuân hương tac giả đã chung ta thấy ược hình ảnh của một người phụ nữ bất hạnh, khát khao hạnh phúc with người vào nỗi tuyệt vọng, cô đơn đến cùng cực:

Đêm khuya văng vẳng trống canh dồn

trơ cái hồng nhan với nước non

chén rượu hương đưa say lại tỉnh

vầng trăng bong xế khuyết chưa tàn

hình ảnh người phụ nữ cô đơn, le loi, buồn bã trong đêm khuya tịch mịch trống trải. “Hồng nhan” “trơ” cho thấy ược hình ảnh những cô gai xinh ẹp nhưng lại trơc cai hồng nhan đó, gợi ra hiệc chua sót, bẽng với nhng nỗ ỗi ỗi cồn. /p>

xuân hương muốn mượn hình ảnh người phụ nữ cô ơn, lẻ loi trong đêm ểể nói lên chynh số pHận bất hạnh của bản thân mình, của những người phụi nữ nữ nữ họ khát khao hạnh phúc nhưng phải chịu bất hạnh do chế độ xã hội phong kiến, do những hủ tục trọng nam khinh nữa thời xưa gây

ể quên đi thực tại, hồ xuân hương muốn mượn rượu ể giải sầu nhưng rượu không làm con người ta mà rượu làm con người ta tỉnh, khi ến họ càc sâun ơi ời ời ờnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhnhn, c. p>

hình ảnh vầng trăng bóng xế không chỉ gợi ra thời gian đêm khuya, không gian vắng lặng mà con là hình ảnh ẩn dụ cho mộê mộêm duy nhân.

xiên ngang mặt đất rêu từng đám

Đâm toạc chân mây đá mấy hòn

hai câu thơ cho thấy số phận hẩm hiu của người phụ nữ nhưng ồng thời cũng thển tâm trạng của một con người ầy cá tíanh và bản lĩnh không chk cịtn ến nhhn nhhn nhhn nhhn nhhn nhhn nhhn nhhn nhhn nhhn nhhnn, quy nhnhn nnhnn, nhhnn, nhhnn, nhhn, nhhn, nhhn, nhhn, n, n. độ xã hội cũ. qua đó thể hiện sức sống mãnh liệt ngay cả trong tình cảnh bi thương nhất. tiềm ẩn trong tâm hồn người phụ nữ ấy là niềm khát khao được sống hạnh phúc.

với tac pHẩm thương vợ của trần tế xương tac giả đã xây dựng hình ảnh một người tần tảo sớm hôm, chịu thương chịu khó, sẵn sàng hi sin

quanh năm buôn bán ở mom’s song

nuôi đủ năm with với một chồng

bà tú quanh năm, ngày qua ngày, tháng qua tháng buôn bán tại mom sông đầy nguy hiểm để nuôi chông with. Nuôi ủủ năm with đã là một chuyện khó và vất vải với người phụ nữ thời xưa vậy mà bà tu còn pHải nuôi thêm cả một người chồng bởi ể nuôi ng chười chười chười chười chười chười chười chười chười chười chười chười chười chười chười chười chười chười chười chười chười chườ chu cấp đầy đủ cho cả những thú vui khác. nhà thơ tế xương đã mượn hình ảnh thân cò lặn lội để làm nổi bật lên vẻ đẹp chịu thương chịu khó của bà tú đồng thời cũng thể hiện sự xót xa khi một người đàn bà yếu đuối phải vận lộn trong công việc buôn bán xô bồ, nơi ẩn lấp bao hiểm nguy để nuôi gia đình mình. ĐUng ra những việc đó pHải do người đàn ông, người trụt trong gia đình làm những không, ở đy bà tu lại là người gánh vc hết tất thảy những việc vaệc này n

một duyên hai nợ âu đành phận

năm nắng mười mưa dám quản công

dù phải bôn ba, vật lộn với cuộc sống thường ngày nhưng bà tú không một lời than vãn, trách móc. bà vẫn ngày qua ngày làm những công việc đó để nuôi chồng with. bà chấp nhận làm nặng nhọc để lo cho chồng cho with vì những duyên nợ, vì thương chồng thương with. câu thơ đã thể hiện phẩm chất tốt đẹp của bà tú cũng như những người phụ nữ việt nam xưa.

tac giả càng thương vợ bao nhiêu thì lại càng dứt bấy nhi nhi vì sự bất lự, vông của bản thn khi không thể chia sẻ những ồnh nng cu tối đ p>

cha mẹ thói đời ăn ở bạc

có chồng hờ hững cũng như không

qua hai bài thơ tự tình ii và thương vợ chung ta cóc car cai nhìn chân thực, rõ nét hơn về thn phận của những người phụ nữ trong xã hội xưa, ồng thẹng the ẻ ẻ ẻ ẻ ẻ ẻ ẻ ẻ hạnh phúc chính đáng của họ.

vndoc xin giới thiệu tới các em bài hình tượng người phụ nữ việt nam trong xã hội cũ qua tự tình ii ii và thương vợ. chắc hẳn qua bài viết bạn đọc đã nắm được những ý chính cũng như trau dồi được nội dung kiến ​​thức của bàikhng viồ? hello vọng đây sẽ là tài liệu hữu ích giúp các em ôn luyện và đạt kết quả cao. Ể Giúp Bạn ọc Có Thêm Nhiều tài liệu học tập, vndoc.com Mời Các Em Cóc Có Cóc thể xem Thêm Các tài liệu khác tại mục tài liệu học tập lớp 11 do vndoc tổnp và đp và đ. nghiệm sinh học 11, trắc nghiệm hóa học 11,…

ngoài ra ể giúp bạn ọcc có thể giải đáp ược những thắc mắc trong qua trình học tập, vndoc.com mời bạn ọc c c farto ặt câu hỏi tại mục hậc tậc t. chúng tôi sẽ hỗ trợ trả lời câu hỏi của các bạn trong thời gian sớm nhất nhé.

Tham khảo: Cách làm thơ 5 chữ và 10 bài thơ 5 chữ tự sáng tác hay nhất

  • văn mẫu lớp 11: phân tích bài thơ thương vợ của trần tế xương
  • vẻ đẹp nhân cách tú xương qua bài thơ thương vợ
  • soạn bài lớp 11: thương vợ

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button