ISTANAIMPIAN Slot Online

Bandar slot 2023

bandar slot terpercaya

bandar slot 2023

bandar slot 2023

bandar slot 2023

bandar slot gacor

Tác phẩm văn học

Phân tích Nhàn của Nguyễn Bỉnh Khiêm

ể bài văn phân tích bài thơ nhàn của bạn ược trôi chảy, hấp dẫn và không bị thiếu ý, ừng dự mà kh. tích nội dung bài thơ nhàn do Đọc tài liệu tổng hợp và biên soạn dưới đây:

  • hướng dẫn phân tích đề (phân tích yêu cầu đề, xác lập luận điểm)
  • dàn ý phân tích bài nhàn chi tiết
  • 4 bài văn phân tích nhàn hay dùng đọc tham khảo
  • cùng tham khảo ngay…

    Xem thêm: Phân tích bài thơ nhàn của nbk

    me. hướng dẫn phân tích bài thơ nhàn (nguyễn bỉnh khiêm)

    1. phân tích yêu cầu đề bài

    – yêu cầu nội dung: phân tích nội dung và nghệ thuật của bài thơ nhàn.

    – phạm vi tư liệu, dẫn chứng: các câu, từ ngữ, chi tiết tiêu biểu trong bài thơ nhàn của nguyễn bỉnh khiêm.

    – phương pháp lập luận chính: phân tích.

    2. luận điểm phân tích bài nhàn

    luận điểm 1: hoàn cảnh sống của nguyễn bỉnh khiêm.

    luận điểm 2: quan niệm sống của nguyễn bỉnh khiêm.

    luận điểm 3: cuộc sống của nguyễn bỉnh khiêm ở chốn quê nhà.

    luận điểm 4: triết lí sống nhàn, vẻ đẹp nhân cách của nhà thơ.

    cùng bắt đầu bài văn phân tích nhàn của mình ngay bây giờ với những gợi ý làm bài sau đây do Đọc tài liệà tổn p.

    ii. giới thiệu tác giả, tác phẩm

    1. tác giả nguyễn bỉnh khiêm

    – nguyễn bỉnh khiêm (1491 – 1585) hiệu là bạch vân am cư sĩ, ược các môn sinh tôn là tuyết giang phu tử, là một trong những nhân vật có ảnh hưởng nhất strong on kỷ 16.

    – quê ở làng trung an, huyện vĩnh lại, phủ hạ hồng, trấn hải dương (nay thuộc huyện vĩnh bảo, hải phòng)

    – sinh ra trong gia đình có bố mẹ nổi tiếng học rộng, ược giáo dục cẩn thận về nhân cách và tài năng từ nhỏ n “thông minh khcc th, ừ nhỏ n “thông minh khcc th, ưm t ng minh khcc th

    – lớn lên trở thành học trò xuất sắc của bảng nhãn lương ắc bằng ở làng lạch triều (Thuộc huyện ho th th th th th th th th thu.

    – ông đã bỏ qua ến 9 kì ại khoa và ậu trạng nguyên năm 1535 (năm 45 tuổi) vì không muốn đi vết xe cũa người thầy ầngữcữ

    – Ông được biết đến nhiều vì tư cách đạo đức, tài thơ văn cũng như tài tiên tri các tiến triển của lịch sử việt nam.

    t nam.

    t nam.

    – nguyễn bỉnh khiêm mất năm 1585 ở Tuổi 95. ông ể lại rất nhiều sáng tac thơ vĂn bằng cả chữ nôm và chữ Hán, vĂn bia (bi ký), các tập sấm kmm.

    2. bài thơ nhàn

    – “nhàn” là bài thơ nôm số 73 trong bạch vân quốc ngữ thi

    – nội dung: bài thơ là lời tâm sự nhẹ nhàng, thm trầm, sâu sắc về quan niệm sống nhàn của tac giả hòa hợp với thiên nhiên, coi thường danh lợi, lu ữt cảnh của cuộc sống.

    – bố cục 4 phần (đề – thực – luận – kết):

    + hai câu đề: hoàn cảnh sống của nguyễn bỉnh khiêm

    + hai câu thực: quan niệm sống của nguyễn bỉnh khiêm

    + hai câu luận: cuộc sống của nguyễn bỉnh khiêm ở chốn quê nhà

    + hai câu kết: triết lí sống nhàn.

    hoàn cảnh sáng tác: nguyễn bỉnh khiêm bấy giờ chán ghét cảnh quan trường và về quê ở ẩn. Ở đây ông có một cuộc sống an nhiên tự tại tránh xa những bon chen thị phi của chốn quan trường. bài thơ này để thể hiện quan điểm và dại khôn ở đời. nhan đề do người đời sau đặt.

    iii. dàn ý chi tiết phân tích nhàn

    1. mở bài phân tích bài nhàn

    – giới thiệu tác giả, tác phẩm:

    + nguyễn bỉnh khiêm là nhà thơ lớn, đa tài của vĂ học dân tộc với pHong cach thơ mang ậm tính triết li, giáo huấn, suy nghĩ, threch trởc vềc sống sống ng.

    + bài thơ nhàn là bài thơ nôm nổi tiếng của nguyễn bỉnh khiêm nói về cuộc sống th.

    2. que bài phân tích bài thơ nhàn

    * khái quát về bài thơ nhàn

    – hoàn cảnh sáng tác:

    + “nhàn” là bài thơ nôm số 73 trong bạch vân quốc ngữ thi của nguyễn bỉnh khiêm ược làm khi tác giả cáo quan về ởn vì chán nghérh.

    – Giá trị nội dung: bài thơ như lời tâm sự thâm trầm, sâu sắc, khẳng ịnh quan niệm sống nhàn là hòa hợp với thihn nhiên, coi thường danh lợi, luôn giữ tảt tảt tảt tảt tảt tảt tảt tảt tảt tảt tảt t cuộc sống.

    * luận điểm 1: hoàn cảnh sống của nguyễn bỉnh khiêm (2 câu đề)

    – điệp số từ “một”: một mình, lẻ loi

    – mai, cuốc, cần câu: những vật dụng quen thuộc, đơn giản, thô sơ của người dân lao động dùng để đào đất, xớđ.

    -> hình ảnh người nông dân đang điểm lại công cụ làm việc của mình và mọi thứ đã sẵn sàng, dù một mình nhưng tác vui

    – “thơ thẩn”: ung dung, tự tại, chăm chú, tỉ mẩn

    – “dầu ai”: mặc cho ai

    -> Sự KHÁC BIệT TRONG Sở THÍCH, LốI SốNG CủA TAC GIả: MặC CHO AI COR CACH VUI THU Nào, TA Cứ THơ THẩN GIữA CUộC ờI NàY, SốNG THEO CACH RIêNG CủA TA, UNG DUNG, THơN.

    => c?

    * luận điểm 2: quan niệm sống của nguyễn bỉnh khiêm (2 câu thực)

    – nghệ thuật đối: “ta” với “người”, “khôn” với “dại”, “vắng vẻ” với “lao xao” -> sự đối lập về cách chọn nơi sống, niềm vui của nguyễn bỉnh khiêm với người đời.

    + “nơi vắng vẻ”: nơi tĩnh tại của thiên nhiên, nơi tâm hồn tìm thấy sự thảnh thơi.

    + “Chốn lao xao”: nơi quan trường, chốn giành giật tư lợi, sag trọng, tấp nập ngựa xe, quyền quý, kẻ hầu người hạ, bon chen, lusồn lọt, hãm hại nhau.

    -> Ông tự nhận mình là dại, cho người là khôn nhưng thực chất đó là cách nói ngược, hàm ý

    -> theo tác giả, dại thực chất là khôn bởi ở nơi quê mùa con người mới được sống an nhiên, thanh thản. khôn thực chất là dại bởi chốn quan trường con người không được sống là chính mình.

    => cách nói ngầm dại khôn của nguyễn bỉnh khiêm xuất phát từ trí tuệ, thể hiện sự tự tin đầy bản lĩnh của nguyễn kbrhiê

    => quan niệm sống “lánh đục tìm trong”.

    * luận điểm 3: cuộc sống của nguyễn bỉnh khiêm ở chốn quê nhà (2 câu luận)

    – “măng trúc”, “giá”: những thức ăn “cây nhà lá vườn” dân dã quen thuộc do chính tác giả làm ra.

    – “tắm hồ sen”, “tắm ao”: tác giả cũng tắm hồ, tắm ao như bao người dân quê.

    -> sự giản dị, đạm bạc trong ăn uống và sinh hoạt, có sự gắn bó, hòa quyện giữa con người với thiên nhiên.

    – sự xuất hiện của bốn mùa: xuân, hạ, thu, đông

    => sự hài lòng với cuộc sống giản dị, đạm bạc mà thanh cao, tự do, thoải mái, hòa quyện với thiên nhiên suốt 4 mùa của tác.

    giả.

    * luận điểm 4: triết lí sống nhàn, vẻ đẹp nhân cách của nhà thơ (2 câu kết)

    – Điển tích giấc mộng đêm hè của thuần vu phần -> phú quý chỉ là một giấc chiêm bao.

    – “nhìn xem”: một thế đứng cao hơn, dường như đã tiên liệu ngay từ khi chọn lối sống của một người tgt cho mình là; -d&ờ cái nhìn của một bậc đại nhân đại trí, ông nhìn phú quý bằng ánh mắt coi thường, khinh bỉ, không đáng để ông suy nghĩ,

    => tac giả tìm ến rượu ểể say ể chiêm bao và ểể nhận ra rằng cup sống công danh pHú qualk chỉ như một giấc mơi dưới gốc cy hòe thog qua vô nghĩa, cai vĩnh hếng h c chng c chng c chng c chng c chng c chng c chng c chng c chng c chng c chng c chng c chng c chng c chng c chng c chng c chng c chng c chng c chng c chng c chng c chng c chng tờng tờng tờng tờng tờng tờng t ẹ ẹ ẹ ẹ ẹ gres thiên nhiên và vẻ đẹp nhân cách của con người.

    => quan niệm sống nhàn của nguyễn bỉnh khiêm là sống hòa hợp với thiên nhiên, xa lánh những vinh hoa quyền qualk khỏi vòng danh lợi với tâm hồn Thermhn, that.

    3. kết bài phân tích bài thơ nhàn

    – khái quát giá trị nội dung, nghệ thuật của bài thơ:

    + nội dung: bài thơ như lời tâm sự thâm trầm, sâu sắc, khẳng ịnh quan ni ệm sống nhàn là hòa hợp với thiên nhiên. .

    + Đặc sắc nghệ thuật: thể thơ thất ngôn bát cú; từ láy được sử dụng linh hoạt; hình ảnh gắn bó với đời sống nhân dân; sử dụng phép đối, điển cố; ngôn từ mộc mạc, tự nhiên mà giàu tính triết lí; nhịp thơ chậm rãi, nhẹ nhàng.

    >>> xem thêm những mẫu dàn ý phân tích bài thơ nhàn của nguyễn bỉnh khiêm

    iii. top 6 bài văn hay phân tích nhàn của nguyễn bỉnh khiêm

    phân tích bài thơ nhàn đãc rất nhiều bài văn there are và sâu sắc, dưới đây là tuyển tập một số bài tiêu biểu và ạt điểm trong số đó đ đ ể ể /p>

    1. phân tích bài nhàn – mẫu số 1

    v sống cuộc sống an nhàn, thảnh thơi. Ông còn được biết đến là nhà thơ nổi tiếng với hai tập thơ tiếng hán “bạch vân am thi tập” và tập thơ tiếng nôm “bạch vâc thin qu”. bài thơ “nhàn“ được rút trong tập thơ “bạch vân quốc ngữ thi”. bài thơ ược viết bằng thểt ngôn bát cú ường luật, là tiếng lòng của nguyễn bỉnh khiêm về một cuộc sống nhiều niềm vui, và nhàn

    xuyên suốt bài thơ là tâm hồn tràn ngập niềm vui và sự thanh tịnh trong tâm hồn tác giả. có thể xem đây là điểm nhấn, là tinh thần chủ đạo của bài thơ. chỉ với 8 câu thơ Đường luật nhưng nguyễn bỉnh khiêm đã mang đến cho người đọc một cuộc sống an nhàn nơi ợêng qu>

    mở đầu bài thơ là hai câu thơ đề rất mộc mạc:

    một mai một cuốc, một cần câu

    thơ thẩn dầu ai vui thú nào

    VớI PHÉP LặP “MộT” – “MộT” đã Vẽ lên trước mắt người ọc một khung cảnh bình dị, ơn sơ nơi quê nghèo, dùt mình nhưng không hề ộn ộ ộ ộ ộ ộ ộ ộ hai câu thơ toát lên sự thanh tịnh của tâm hồn và êm đềm của thiên nhiên ở vùng quê bắc bộ. “một cuốc”, “một cần câu” gợi lên sự bình dị, mộc mạc của một người nông dân chất phác. hình ảnh nguyễn bỉnh khiêm hiện lên là một lão nông an nhàn, thảnh thơi với thú vui tao nhã là câu cá và làm vườn. ĐY Có thể nói là cuộc sống đáng mơ ước của rất nhiều người ở thời kỳ phong kiến ​​ngày xưa nhưng không pHải ai cũng có thể dứt bỏ ược chốn trường vớn. Động từ “thơ thẩn” ở câu thơ thứ hai đã tạo nên nhịp điệu khoan thai, êm ái cho người đọc. Dù ngoài kia người ta vui vẻii chốn đông người thì nguyễn bỉnh khiêm vẫn mặc kệ, vẫn bỏc mặc ểể “an phận” với cuộc sống của mình hiện tại. cuộc sống của ông khiến nhiều người ngưỡng mộ.

    Đến hai câu thơ thực tiếp theo càng khắc họa rõ nét hơn chân dung của “lão nông nguyễn bỉnh khiêm”.

    ta dại ta tìm nơi vắng vẻ

    người khôn người đến chốn lao xao

    Đây có thể xem là tuyên ngôn sống của nguyễn bỉnh khiêm những năm tháng sau khi cáo quan về ở ẩn. Ông tự nhận mình “dại” khi tìm nơi vắng vẻ đến sống, nhưng đây là cái “dại” khiến nhiều người ghen tỵ và ngưỡng m. Ông rất khéo léo trong việc dùng từ ngữ độc đáo, lột tả được hết phong thái của ông. Ông bảo rằng những người chọn chốn quan trường là những người “khôn”. một cách khen rất tinh tế, khen mà chê, cũng có thể là khen mình và chê người. tứ thơ ở hai câu này hoàn toàn đối lập nhau từ ngôn ngữ đến dụng ý “dại” – “khôn”, “vắng vẻ” – “lao xao”. nguyễn bỉnh khiêm tìm về nơi vắng vẻ để ở có phải là trốn tránh trách nhiệm với nước hay không? với thời thế như bấy giờ và với cốt cách của ông thì “nơi vắng vẻ” mới thực sự là nơi để ông sống đến suờc t cu. một cốt cách thanh cao, một tâm hồn đáng ngưỡng mộ.

    hai câu thơ luận đã gợi mở cho người đọc về cuộc sống bình dị, giản đơn và thanh cao của nguyễn bỉnh khiêm:

    Đang xem: Thơ Chế Học Sinh Đi Học Hài Hước ❤️ Lười Học Hành Vui

    thu ăn măng trúc đông ăn giá

    xuân tắm hồ sen hạ tắm ao

    một cặp câu đã lột tả hết tất cả cuộc sống sinh hoạt và thức ăn hằng ngày của “lão nông nghèo”. Mùa nào ều tương ứng với thức ăy, tuy không có sơn hào hải vị nhưng những thức Ăn có sẵn này lại ậm đà hương vị quê nhà, khiến tac. mùa jue có măng trúc ở trên rừng, mùa đông ăn giá. chỉ với vài nét chấm phá nguyễn bỉnh khiêm đã “khéo” khen thiên nhiên đất bắc rất hào phóng, đầy đủ thức ăn. Đặc biệt câu thơ “xuân tắm hồ sen hạ tắm ao” phác họa vài đường nét nhẹ nhàng, đơn giản nhưng toát lên sự thanh tao. một cuộc sống dường như chỉ có tác giả và thiên nhiên, mối quan hệ tâm giao hòa hợp nhau.

    Đến hai câu thơ kết dường như đúc kết được tinh thần, cốt cách cũng như suy nghĩ của nguyễn bỉnh khiêm:

    rượu đến cội cây ta sẽ uống

    nhìn xem phú quý tựa chiêm bao

    hai câu thơ này là triết lý và sự đúc rút của nguyễn bỉnh khiêm trong thời gian ở ẩn. Đối với một con người tài hoa, có trí tuệ lớn như thế này thì thực sự phú quý không hề là giấc chiêm bao. Ông từng ỗ Trạng nguyên thì tiền bạc, của cải ối với ông thực ra mài nói không hề thiếu nhưng đó lại không phải là điều ông nghĩ ến và và tham vàng. với ông phú quý chỉ “tựa chiêm bao”, như một giấc mơ, khi he tỉnh dậy thì he sẽ so, sẽ hết mà thôi. có thể xem đây chính là cách nhìn nhận sâu sắc, đầy triết lý nhất. với một con người thanh tao và ưa sống an nhàn thì phú quý chỉ như hư vô mà thôi, ông yêu nước nhưng yêu theo một cách thầm lặng nht. cách so sánh độc đáo đã mang đến cho hai câu kết một tứ thơ hoàn hảo nhất.

    như vậy với 8 câu thơ, bài thơ “nhàn” của nguyễn bỉnh khiêm đã khiến người đọc ngưỡng mộ và khâm phục cốt ốt ốt ch, thn thncá v. she là một người yêu nước, thích sự thanh bình và coi trọng cốt cách xứng đáng là tấm gương đáng học hỏi. bài thơ Đường luật kết cấu chặt chẽ, tứ thơ đơn giản nhưng hàm ý sâu xa đã làm toát lên tâm hồn và cốt cách cễn bhiyn khiyn. cho đến bây giờ, ông vẫn được rất nhiều người ngưỡng mộ.

    2. phân tích nhàn để hiểu quan niệm sống của tác giả- mẫu số 2

    (một bài văn mẫu phphaan tích nhàn với phương thức lập luận chặt chẽ.)

    nguyễn bỉnh khiêm (1491 – 1585) sống gần trọn một thế kỉ and biến ộng của chế ộ ộ phong kiến ​​việt nam: lê – mạc xưng hùng, trịnh – nguyễn phân tranh. trong những chấn động làm rạn nứt những quan hệ nền tảng của chế độ phong kiến, ông vừa vạch trần những thế lực đen tối làm đảo lộn cuộc sống nhân dân, vừa bảo vệ trung thành cho những giá trị đạo lí tốt đẹp qua những bài thơ giàu chất triết lí về nhân tình thế thái, bằng thái độ thâm trầm của bậc đại nho.

    nhà thơ đã nhiều lần đứng trên lập trường đạo đức nho giáo để bộc lộ quan niệm sống của mình. những suy ngẫm ấy gắn kết với quan niệm đạo lí của nhân dân, thể hiện một nhân sinh quan lành mạnh giữa thế cuộc đảo nhàn là cách xử thế quen thuộc của nhà nho trước thực tại, lánh đời thoát tục, tìm vui trong thiên nhiên cây cỏ, giữ mình trong s. Hành trình hưởng nhàn của nguyễn bỉnh khiêm nằm trong quy lật ấy, tìm vềi nhân dân, ối lập với bọn người tầm thường bằng cach nó ngụ ýa ng.

    cuộc sống nhàn tản hiện lên với bao điều thú vị.

    “một mai, một cuốc, một cần câu,

    thơ thẩn dầu ai vui thú nào”

    ngay trước mắt người đọc sẽ hiện lên một nguyễn bỉnh khiêm thật dân dã trong cái bận rộn giống như một lão ụnôngth. nhưng đó là cả một cach chọn lựa thou hưởng nhàn qualk của nho nhì tìm về cup sống “ngư, tiều, Canh, mục” như một cach ối lập dứt khoat tuyệt ối từc cuộc sống ậ dáng vẻ thơ được phác họa trong câu thơ độc đáo, mang lại vẻ ung dung bình thản của nhà thơ trong cuộc sống nhàn tản thật.

    thực ra, sự hiện diện của mai, cuốc, cần câu chỉ là một cách tô điểm cho cái thơ thẩn khác đời của nhà thơ mà thôi. những vật dụng lao động quen thuộc của người bình dân trở thành hiện thân của cuộc sống không vướng bận lo toan tục lụy. ẰNG SAU NHữNG LIệT Kê của nhà thơ, ta nhận ra những suy nghĩ của ông không tách rời quan điểm thn dân của một with người chọn cuộc ời ẩn sĩ lẽ số sốa rủa. trạng trình đã nhìn thấy từ cuộc sống của nhân dân chứa đựng những vẻ đẹp cao cả, một triết lí nhân sinh vững bền.

    “ta dại ta tìm nơi vắng vẻ,

    người khôn người đến chốn lao xao”

    hai câu thực là một cách phân biệt rõ ràng giữa nhà thơ với những ai, những vui thú nào về ranh giới nhận thức cũng như chỗ cu. Phep ối cực chuẩn đã tạo thành hai ối cực: một bên là nhà thơ xưng ta một các ngạo nghễ, một bên là người, một bắi là dại của ta, một bên là khôc ẻi ẻi ẻi ẻ wow.

    Đằng sau những đối cực ấy là những ngụ ý tạo thành phản đề khẳng định cho thái độ sống cùa nguyễn khiêmh. bản thân nhà thơ nhiều lần đã định nghĩa dại – khôn bằng cách nói ngược này. Bởi vì người ời lấy lẽ dại – khôn ể tính toán, trash giành thiệt hơn, cho nên thực chất dại – khôn làlyoi thực dạng ích kỉ làm tầm thường with ng, cú.gi nguyễn bỉnh khiêm cũng chủ động trong việc tìm nơi vắng vẻ – không vướng bụi trần. nhưng không giống lối nói ngược của khuất nguyên thuở xưa “người ời tỉnh cả, một mình ta” ầy u uất, trạng trình đã cườt vào thmi ờ quân tử không bận tâm những trò khôn – dại.cũng vì thế, nhà thơ mới cảm nhận được tất cả vẻ đẹp cỺa cuộngc shàn:

    t

    “thu ăn măng trúc, đông ăn giá

    xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao”

    khác hẳn với lối hưởng thụ vật chất ắm mình trong vinh hoa, nguyễn bỉnh khiêm đã thụ hưởng những ưu đãi củt bohiên hỺt thiên tận hưởng lộc từ thiên nhiên bốn mùa xuân – hạ – thu – đông, nhà thơ cũng ược hấp thụ tinh khí ất trời ểt rửa bao toan vướng bận riêng tư. cuộc sống ấy mang dấu ấn lánh đời thoát nét gần gũi với triết lí “vô vi” của đạo lão. “thoát tục” của đạo phật.

    NHưNG GạT SANG MộT Bên NHữNG TRIếT LIB SIêU HìNH, TA NHậN RA WITH NGườI NGHệ SĩICH THựC CủA NGUYễN BỉNH KHIêM, HợP VớI NHIêN MộT CACH SANG TRọNG TấT Không những thế, những hình ảnh măng Truc, giá, hồ sen còn mang ý nghĩa biểu tượng gắn kết với pHẩm chất thanh cao của người quân tử, sống không hổ thẹn vớt vớt m. hòa hợp với thiên nhiên là một tuyết giang phu tử đang sống đúng với thiên lương của mình.

    quan niệm về chữ “nhàn” của nhà thơ được phát triển trọn vẹn bằng sự khẳng định:

    “rượu đến cội cây, ta sẽ uống,

    nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.”

    mượn điển tích một cách rất tự nhiên, nguyễn bỉnh khiêm đã nói lên thái độ sống dứt khoát đoạn tuyệút vông danêi c. quan niệm ấy vốn dĩ gần với ạo lão – trang, có phần yếm thế tiêu cực, nhưng ặt trong thời ại nhà thơ đang sống lẙ ghĻ cộc cuộc sống của những kẻ chạy theo công danh phú quý vốn dĩ ông căm ghét và lên án trong rất nhiều bài thơ về nhân tình thế thái của

    “Ở thế mới hay người bạc ác,

    giàu thì tìm đến, khó thì lui”

    (thói đời)

    <p bọn chúng là bầy chuột lớn gây hại nhân dân mà ông vô cùng căm ghét và lên án trong bài thơ ‘‘tăng thử” (ghét chuột) của mình. bởi thế, có thể hiểu thái độ nhìn xem phú quý tựa chiêm bao cũng là cách nhà thơ chọn lựa con đường sống gần gũi, chia sẻn v. CUộC SốNG ạM BạC MÀ THANH CAO CủA NGườI BìNH DâN đáng quý đáng trọng vì đem lại sự Thanh thản cũng như giữ nhân cach khhhng bị hoen ố vẩn ục trong x ế

    bài thơ “ nhàn ” bao quát toàn bộ trết li, tình cảm, tri tuệa nguyễn bỉnh khiêm cuộc sống của nhân dân ể ối lập một cach tri tri ​​trên with đường suy vong thối nát. bài thơ là kinh nghiệm sống, bản lĩnh cứng cỏi của một con người chân chính.

    3. phân tích nhàn với quan niệm sống sâu sắc- mẫu số 3

    (Đây là bài phân tích bài thơ nhàn với cách mở bài gián tiếp.) – tác giả nguyễn thu hà

    “thơ khởi phát từ lòng người ta”, chứa đựng biết bao nhiêu rung cảm, trăn trở nơi người cầm bút. một tác phẩm thơ chân chynh, muốn vượt lên sức mạnh của thời gian, của lòng người, ẩn chứa trong đó những tình cảt. Với “nhàn”, nguyễn bỉnh khiêm đã gửi tới người ọc những quan niệm, triết li sâu sắc về with người, thời ại mà cho ến tận ngày nay nay ngườn phẫi ng.

    cũng giống như nguyễn tríi, sống giữa một thời ại loạn lạc, ầy biến ộng, nơi mà các giá trị truyền thống ạo ức bị ảo lộn, with tìm về với cuộc sống nơi thôn dã, vui với việc “cày nhàn câu vắng”, tự mình thích thảng với lòng mình, tạm quên hết ếu Ỻd ựd. gửi chí hướng về nơi thôn dã, cuộc sống của thi nhân nơi thôn quê hiện lên như một “lão nông chi điền”:

    một mai, một cuốc, một cần câu

    thơ thẩn dầu ai vui thú nào

    bài thơ mở ầu bằng pHép liệt kê kết hợp với điệp từ “một” đã gợi mở ra một cuộc sống ơn sơ, chất phác với những công cụ lao ộng thuộc của ng. một cuộc sống thuần phác, giản dị với “mai”, “cuốc” và “cần câu” nhưng an nhàn và thanh tao. Ặc biệt, hai chữ “thơ thẩn” kết hợp với nhịp thơ 2/2/3 một cách tài tình, đã gợi ra chân dung của nguyễn bới dỉn dã chôn dãqua Đó là dáng điệu ung dung, thu thái của một nhà thơ, cũng là nhịp điệu cuộc sống thường nhật của nhân vật trữ tình. thanh thản, tự tại là tâm thế con người đã xác định được lẽ sống của mình, rời xa cõi trần tục, lòng không xungh quang vư. Câu thơ cũng là lời bày tỏ tỏ thati ộ cự tuyệt ời sống thị thành, chối bỏi mọi sự nhập cuộc, tự tách mình khỏi thế nhân trụy lạc ể ể ể ể ể ể ể ể ể

    vềi cuộc sống thuần phc, chân chất, nguyễn bỉnh khiêm tiếp tục cụ thể Hóa bằng một ời sống tinh thần và lềi Sinh Hoạt hòa hợp với thiên nhi nhi. Ông nương theo quy luật đất trời, thuận theo thời tiết bốn mùa:

    jue ăn măng trúc, đông ăn giá,

    xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.

    Cáá nguyên liệu cho ời sống, không gian Sinh hoạt ều rất bình dị, ơn sơ với “mĂng trúc”, “giá” là những mono đơn sơ và bình dị. Đó là sự thể hiện một lối sống, một thái độ xử thế cầu nhàn không hề kham khổ mà trái lại nó toát lên vẻ thanh cao ct va nh. with người giờ đây đã hòa hợp với thiên nhiên bốn mùa, với sự luân chuyển của thời gian và không thể tách khỏi thiên nhiên.

    như vậy, với nguyễn bỉnh khiêm, nhàn trước hết là một cách sống. cùng với “cảnh ngày hè” của nguyễn trãi, ông đã khẳng định một lối sống thanh tao của các bậc hiền tài giữa cảnh đất nước suy tàn, loạn lạc: rời xa cõi trần phàm tục để tìm về với thiên nhiên, sống một cuộc sống giản dị, thuần phác để giữ tâm hồn được thư thái, thanh sạch.

    thi nhân đau đớn, phê phán thế thái nhân tình, đạo lí suy vi và tìm đến sự hòa giải nội tâm bằng một lối sối vđi cá Đã hơn một lần, ông lên tiếng chối bỏ lối sống đô hội thị thành, sống một cuộc sống tự tại, không đua tranh:

    ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,

    người khôn, người đến chốn lao xao.

    bằng nghệ thuật đối rất chỉnh, tác giả đã đối lập giữa cái “vắng vẻ” với “chốn lao xao”, giữa “ta” với “người”. Cái “Lao Xao” đó Chynh Là nơi trần tục ầy những sự nhân vi, toan tính, bon chen mà nguyễn bỉnh khhm từng chiêm nghiệm, chán ghém và thển à à à à đ đ đ đ đ đ đ đ đ đ “;” Ường lợi do theo thị tỉnh “… ối lập lại, ông ề cao lối sống dân dã, thanh ạm, kiệm cần, ề cao“ nơi vắng vẻ ”và rất mực coi trọng tinh th NHườNG “Ta dại…”. , người ta không dễ dàng chấp nhĺn những mầmống mᑻóng lᑻi. trên tất cả, ông đã hòa giải ược những phức tạp nội tâm bằng tinh thần tựi và thái ộộ gián cár với thế tục, ứng trên thế tục. nhưng xét ến c cùng

    nguyễn bỉnh khiêm đã chứng kiến ​​và chiêm nghiệm lẽ ời, đã đi ến c cùng của sự khôn dại ể thấu hiểu và tìm ra trique lít lít “nhàn” – cũng là tri ết.

    rượu, đến cội cây, ta sẽ uống

    nhìn xem phú quý tựa chiêm bao

    thi nhân đã nhắc ến giấc mộng dưới cây hòe của thuần vu phần ể thức tỉnh một chân li: của cải, vật chất chỉ là ảo mộng, nhưt gic chkm chkm ch ất. She phải trải qua tất cả cảnh ời, trường ời như thế rồi nguyễn bỉnh khiêm mới ạt tới thế ứng xử vĂ Hóa mang thần triết li về nhàn dật và tại tại. một tinh thần nhàn dật và tự tại như thế nhiều khi biểu lộ cách nói hơn là hành động thực, một giải pháp tình thế hơn là chí hướng cả đời người, một sự độc tôn tâm trạng bất đắc dĩ hơn là khả năng tìm ra lối thoát tối ưu. Bởi xét ến c cùng, giữa một xã hội đu đu cũng là hư danh, phu quý pHù du, mấy ai ược như nguyễn bỉnh khiêm và nguyễn tréi ể nhìn thì ờ ẽ ẽ ẽ ẽ ẽ ẽ ẽ ẽ ẽ ẽ ẽ ẽ ẽ ẽ ẽ ẽ ẽ ẽ ẽ ẽ ẽ ẽ ẽ ẽ nhân vật trữ tình đã tìm đến cái say để tỉnh, dùng mộng để nói thực và thốt lên những chiêm nghiệm sâu sắc. cũng như chính thi nhân đã bày tỏ riqu rõ rrong bài tựa tập thơ am bạch vân: “ôi, nói tâm là nói về cai chỗ mà chí ạt tới vậy, mà thơ lại là ề nói chí. có kẻ chí để ở đạo đức, có kẻ chí để ở công danh, có kẻ chí để ở sự nhàn dật. Tôi lúc nhỏ chịu sự dạy dỗ của gia đình, lớn lên bước vào giới sĩ phu, lúc về già chí chích nhàn dật, lấy cảnh non sông nước làm vui … “.

    có thể nói, nhàn là một chủ ề rất pHổ biến trong thơ ca trung ại, là một nét tưng văn văn Hóa rất sâu sắc của người xưa, ặc biệt là tầng lớp thhức. sống nhàn dật với tự nhiên để tu dưỡng nhân cách, đem lại thú vui tao nhã cho with người. biết sống nhàn, biết tìm thú nhàn là cả một học thuyết triết học lớn. Bài Thơ “ nhàn ” Đặt trong tương quan với nhiều tác phẩm thơ văn khác, các sáng tác của ông hàm chứa tính phức hợp của cung bậc tâm trạng. Thi nhân đã ưa ra nhiều cach thức hình dung vềc cup ời, soi nhìn cuộc sống từ nhiều góc cạnh, tự ặt mình trong mỗi tình huống cụ thụ mài bài thơ ặ ặ tình huống cụ thụ mà bài thơ ặ nhhi trong mỗi tình huống cụ thụ mà bài thơ ặ nhhi trong mỗi tình huống cụ thụ mà bài thơ nhh ệ ệ Điều này đặt ra yêu cầu tiếp nhận thơ văn nguyễn bỉnh khiêm cần được xem xét trong tính tổng thể song cũng phải chú tới mối liên hệ giữa các đường hướng tâm trạng phù hợp với từng cảnh đời và chặng đường đời cụ thể.

    như vậy, kHép lại bài thơ, người ọc vẫn còn vương vấn cuộc sống an nhàn, Thanh Tao, Giản dị mà nguyễn bỉnh khim coi đó là ca phù du, như một giấc m đó để giữ khí tiết thanh sạch mới là bậc đại trí. Điều đó đã làm nên sức sống trường tồn bất diệt của tác phẩm trước sức mạnh của dòng thời gian và đời ngưp>

    4. phân tích nhàn – mẫu số 4

    (văn mẫu phân tích bài nhàn có sự liên hệ)

    nguyễn bỉnh khiêm (1491 – 1585) quê ở làng trưng âm, xã lí học, huyện vĩnh bảo, ngoại thành hải phòng, ông ỗng nguyên năr5 vm 153. Ông đã ể lại cho ời tập thơ chữ do . thơ nguyễn bỉnh khiêm mang ậm chất triết lí, giáo huấn, ca ngợi ý chí thenh cao của kẻ sĩ và biểu dương quan niệm sống nhàn, ồnhing thû

    nhàn là bài thơ nôm nằm trong tập bạch vân quốc ngữ thi. nhan đề bài thơ là do người đời sau đặt. Bài thơ như lời tâm sự thâm trầm, sâu sắc, khẳng ịnh quan or niệm sống nhàn là hòa hợp với tự nhiên, giữ ược cốt cach that cao, khí tiết cương trựn, vượt t.

    hai câu thơ đầu phản ánh cuộc sống nhàn nhã, ung dung của nguyễn bỉnh khiêm:

    một mai, một cuốc, một cần câu,

    thơ thẩn dầu ai vui thú nào.

    quan trạng về sống giữa chốn thôn quê nay đã giống như một “lão nông tri điền”, hằng ngày làm bạn với những công cụ lao ộng ư ể ể ể ể ể ể ể ể ể ể ể ể ể ể ể ể ể ể ể ể ể ể ể ể … cách dùng số từ tính đếm rành rọt cho thấy tất cả đã trở nên gần gũi, quen thuộc trong cuộc sống của ông.

    câu thơ ưa ta trở vềi cuộc sống chất phác ơn sơ của cai thời “tạc tỉnh canh điền” (đào giếng lấy nước uống, Cày ruộng lấy cơm Ăn) xa xa xa. quan trạng đang áo mũ xênh xang, chức lớn, bổng lộc nhiều, ấy vậy mà bỗng dưng rũ bỏt tất cả ểể trở vềi ời sống “tự cung tựp” t thng đ`: một ngt ngt ngt ngt ngt ngt ngt ngt ngt ngt ngt ngt ngg ngg ngg ngg ngg ngg ngg ngg ngg ngg ngg ngg ngg ngg th ờ hágh, hám lợi. ngông ngạo mà không ngang tàng, cứ thuần hậu, nguyên thủy, chân chất nông dân:

    thơ thẩn dầu ai vui thú nào.

    hai chữ thơn phản ánh một cách tài tình phong cách ung dung và tâm trạng thảnh thơi của con người tự cho mình là đã xa lánh cõi trụcn si, trong lòng he không còn vướng bận những âm mưu, toan tính bon chen. niềm vui như hiện lên trong từng bước đi thong thả, nhàn nhã. niềm vui chi phối cả âm điệu bài thơ, cứ nhẹ nhàng, lâng lâng, thanh thản một cách lạ kì. cụm từ “dầu ai vui thú nào” còn nói lên lập trường kiên định của nhà thơ trước lối sống đã lựa chọn. chữ ai vốn là một đại từ phiếm chỉ, được tác giả sử dụng trong câu thơ này với một nghĩa rất rộng, càng suy ng thm vú>

    nguyễn bỉnh khiêm cáo quan, trở về quê nhà tức là trở về với thiên nhiên. sống hòa hợp với thiên nhiên co nghĩa là đã thot khỏi vòng tranh đua của Thói tục, không còn bị cuốn hút bởi tiền tài, ịa vị, ể tâm hồn ượ

    ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ,

    người khôn, người đến chốn lao xao.

    nhân cách thanh cao nguyễn bỉnh khiêm đối lập với danh lợi như nước với lửa. vắng vẻ đối lập với lao xao, ta đối lập với người. tìm nơi vắng vẻ không phải là lánh ời mà là tìm nơi mình thích thú, ược sống thoải mái, an nhiên, khác xa chốn quan trường hi vinh.ụn ng hi vinh. nơi vắng vẻ là nơi không có chuyện cầu cạnh, bon chen. nơi vắng vẻ là nơi thiên nhiên tươi xanh, mang lại sự thảnh thơi cho tâm hồn. Chốn lao xao là chốn cửa quyền trống giong cờ mở, là ường hoạn lộp ngựa xe… ến chốn lao xao là ến chốn chợi ểng danh huyên nao, ng à ạt. quyền lợi, để vinh thân phì gia. Đây là nơi có nhiều nguy hiểm khôn lường.

    trạng trình nguyễn bỉnh khiêm là một bậc thức giả có trí tuệ vô cùng sáng suốt. sáng suốt trong sự chọn lựa: ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ, mặc cho: người khôn, người đến chốn lao xao. sáng suốt trong cách nói đùa vui hóm hỉnh, ngược nghĩa: dại mà thực chất là khôn, còn khôn mà hóa dại.

    Ở một bài thơ khác, nguyễn bỉnh khiêm viết:

    khôn mà hiểm độc là khôn dại,

    dại vốn hiền lành ấy dại khôn.

    (thơ nom)

    Tham khảo: Những câu nói hay về Yoga giúp truyền cảm hứng – Stt, status Yoga

    như vậy là quan niệm dại, khôn của nguyễn bỉnh khiêm xuất phát từ trí tuệ, triết lí dân gian: Ở hiền gặp lành; ở ác gặp ác. cuộc sống của bậc đại nhân ở am bạch vân đạm bạc mà thanh cao biết mấy:

    jue ăn măng trúc, đông ăn giá,

    xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.

    hai câu thơ tả cảnh sinh hoạt giản dị mà không kém phần thú vị nơi thôn dã với bốn mùa xuân, hạ, thu, đông. nhà thơ nói về chuyện sinh hoạt hằng ngày như chuyện Ăn, chuyện tắm, … tuy cực kì ơn sơ nhưng thích thou ở chỗ mùa nào cũng sẵnn, chẳng phải nhọc cần phải luồn cúi, cầu cạnh khác, không cần phải theo đuổi công danh, phú, khh.

    những thức ăn quê mùa, dân dã như măng trúc, giá… đều là cây nhà lá vườn, do mình tự làm ra, là công sức của chính mình. Ăn đã vậy, with ở, with sinh hoạt? quan trạng giờ đây cũng tắm hồ sen, tắm áo như bao người dân quê khác.

    là bậc triết gia với trí tuệ uyên thâm, nguyễn bỉnh khiêm đã nắm vững lẽ biến dịch, hiểu thấu quy luật của tạo hóa xà c. theo ông, cái khôn của bậc chynh nhân quân tử là quay lưng lại với danh lợi, tìm sự thư thái cho tâm hồn, sống ung hòa hợp thuhiên.

    nhãn quan tỏ tường và cái nhìn thông tuệ của nhà thơ thể hiện tập trung nhất ở hai câu thơ cuối. nhà thơ tìm đến cái “say” là để “tỉnh” và ông tỉnh táo hơn bao giờ hết:

    rượu, đến cội cây, ta sẽ uống,

    nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.

    quan trạng khẳng định một lần nữa sự lựa chọn lối sống nhàn của mình. cuộc sống nhàn dật này là kết quả của một nhân cách, một trí tuệ khác thường. trí tuệ sáng suốt nhận ra rằng công danh, của cải, quyền quý chỉ tựa chiêm bao. Trí Tuệ nâng cao nhân cach, làm cho lập trường thêm kiên ịnh ể nhà thơ fi ủ ủ qết tâm từ bỏn quan trường lao xao danh lợi, tìm ến nơi thiên nhiê vắn ể ể ể ầ ầ ầ ể ể giữ vững hai chữ thiện lương.

    nhàn là chủ đề rất phổ biến trong thơ văn thời trung đại. nhàn là một nét tư tưởng và văn hóa rất sâu sắc của người xưa, đặc biệt là của tầng lớp trí thức. sống nhàn hợp với tự nhiên, hợp với việc tu dưỡng nhân cách, có điều kiện dưỡng sinh, kéo dài tuổi thọ. sống nhàn đem lại những thú vui lành mạnh cho with người. biết sống nhàn, biết tìm thú nhàn là cả một học thuyết triết học lớn.

    quan niệm sống nhàn của nguyễn bỉnh khiêm không pHải nhằm mục đích trốn tránh vất vả, cực nhọc về thể chất, quay lưng với xã hội, chỉ lo chỉc ông gọi là chốn lao xao. nhàn là sống hoà hợp với tự nhiên, về với tự nhiên để tu tâm dưỡng tính. nguyễn bỉnh khiêm nhàn thân mà không nhàn tâm, lúc nào cũng canh cánh nỗi niềm thương nước lo dân. Ặt Trong Hoàn Cảnh Xã Hội Phong Kiến ương Thời đã Co NHữNG BIểU Hiện Suy VI Về ạO ứC thì quan niệm sống nhàn của nguyễn bỉnh khiêm mang nhiếu y ốu ố

    chân dung nguyễn bỉnh khiêm thể hiện khá rõ nét qua bài thơ nhàn. từ bức chân dung giản dị, mộc mạc ấy toát lên vẻ ẹp nhân cach cao quý, vẻ ẹ ẹp Trí Tuệ Tuyệt vời của bậc ại nho mà tên tên tên tên lưu danh muôn thuở. <

    tham khảo thêm: biện pháp nghệ thuật và tu từ trong nhàn của nguyễn bỉnh khiêm

    5. phân tích nhàn – bài mẫu số 5

    nguồn: lớp văn cô jue

    nguyễn bỉnh khiêm (1491 – 1585) đỗ trạng nguyên; he học vị cao nhất thời phong kiến, làm quan dưới triều nhà mạc được 8 năm. nhận thấy xã hội rối ren, nạn Cát cứ và tranh chấp giữa các tập đoàn phong kiến ​​lê – mạc, trịnh – nguyễn kéo dài, ông bèn cao quan về ẩn cư trên 40 nm ởm ởm ởm ởm ở. nghinh phong, trường xuân, lập quán trung tân ở bến tuyết giang, dạy nhiều học trò, do đó được người đời gọi là tuyết giang phu t. tại đây, nguyễn bỉnh khiêm đã viết nhiều bài thơ nôm nổi tiếng trong đó có bài “nhàn”:

    một mai, một cuốc, một cần câu

    thơ thẩn dầu ai vui thú nào

    ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ

    người khôn, người đến chốn lao xao

    jue ăn măng trúc, đông ăn giá

    xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

    rượu đến gốc cây, ta sẽ nhắp

    nhìn xem phú quý, tựa chiêm bao

    bao trùm trong thơ nguyễn bỉnh khiêm từ khi về trí sĩ ở quê nhà là cảm hứng thanh nhàn, tự tại, gắn bó với thiên ƟƟ bon nhiên, khôt nhiðn. cảm hứng ấy được thể hiện bằng những bài thơ có ngôn từ giản dị, tự nhiên mà ella cô đọng, giàu ý vị. bài thơ nhàn trích trong tập thơ nôm bạch vân quốc ngữ thi là một trường hợp tiêu biểu.

    bài thơ mở đầu bằng những ngôn từ thật vô cùng giản dị:một mai, một cuốc, một cần câu

    thơ thẩn dầu ai vui thú nào.

    mai là công cụ để đào, cuốc để xới và cần câu để kiếm tôm cá. nhịp thơ 2/2/3 gợi tả phong thái khoan thai của nhà nho, nghe như nhân vật trữ tình đang nhẹ nhàng đếm bước: một… một.… một.… dù có lao động vất vả nhưng tác giả tỏ ra mãn nguyện với cuộc sống mà mình đã lựa chọn. “thơ thẩn” là sống ung dung, không bận tâm đến sự đời đen bạc. Đó là cuộc sống của nguyễn bỉnh khiêm, của cụ trạng. nó thuần hậu và thanh khiết biết bao. câu thơ đưa ta trở về với cuộc sống chất phác nguyên sơ của cái thời “nước giếng đào, cơm cày ruộng”. cuộc sống tự cung tự cấp mà vẫn ung dung ngông ngạo trước thói đời. hai câu đầu còn là cái tâm thế nhàn tản, thong dong.

    hai câu thực so sánh hai cách sống:

    ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ

    người khôn, người đến chốn lao xao.

    “ta” đây là nguyễn bỉnh khiêm và những người cùng chí hướng như ông.“người” đây là đám vua chúa, quan lại đương thời. “nơi vắng vẻ” là cuộc sống giữa thiên nhiên, xa cách xã hội ồn ào, lộn xộn, do đó không phải bon chen, cầu cạnh nên tâm đi. “chốn lao xao” là chốn triều đình, chốn cửa quyền có lâu đài, bổng lộc hậu hĩ nhưng phải cạnh tranh quyết liệt. vậy là “khôn” mà thành “dại”; “dại” mà thành “khôn”. thể bình đối tạo nên ấn tượng về sự tương phải sâu sắc giữa “ta” và “người”. Đọc đến đây, ai cũng có cảm tưởng như cụ trạng trình đang mỉm một nụ cười châm biếm những người gọi là “khôn”. nối tiếp nguyễn bỉnh khiêm, về sau lê hữu trac – tac giả thượng kinh ký sự – cũng không ra làm quan, sống ở quê nhà và tự gọi là lén ông – tức ông già lườ nh.m. /p>

    vậy ra, tuyết giang phu tử về với thiên nhiên là để thoát ra khỏi vòng danh lợi, thoát ra khỏi chốn nhiễu nhương đầy ịchen. hai câu thơ diễn ý bằng nói ngược. vì thế nó tạo cho người đọc một liên tưởng thật hóm hỉnh, sâu cay. câu thơ đúng là trí tuệ sắc sảo của một bậc đại quan – trí tuệ để nhận ra cái khôn và cái dại thật sự ở đời.

    ến hai câu lận nhà thơ lại tiếp tục nhấn thêm một chút tình điệu thôn quê nữa ể người ọc cảm nhận thực sự ược cai vui của “cuuộc sống nh nh

    jue ăn măng trúc, đông ăn giá,

    xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao.

    vẫn là những ngôn từ giản dị, vẫn là những hình ảnh nghệ thuật dân dã, ời thường, vậy mà hai câu thơ của nguyễn bỉnh khiêm “sang trọng” biết bao. Khac Hẳn với lối sống hưởng thụ vật chất ắm mình trong vinh hoa, nguyễn bỉnh khiêm đã thụ hưởng những ư đãi của một thiên nhiên hào pHong bằng một tấm tấm tấm tấm tấm tấm tấm tấ. tận hưởng từ lộc thiên nhiên bốn mùa xuân – hạ- thu – đông, nhà thơ cũng ược hấp thụ tinh khí ất trời ểt rửa bao toan vướng bận riêng tư. cuộc sống ấy mang dấu ấn lánh đời gần gũi với triết lí “vô vi”của đạo lão. NHưNG GạT SANG MộT Bên NHữNG TRIếT LICI SIêU HìNH, TA NHậN RA WITH NGườI NGHệ SĩICH THựC CủA NGUYễN BỉNH KHIêM, HOà HợP VớI Tự NHIIêN MộT CACH SANG BỉNG KHI. tự nhiiên một cách sang bằng khiêm, hoà hợp với tự nhiiên một cácla không những thế, những hình ảnh măng trúc, giá, hồ sen còn mang ý nghĩa biểu tượng về phẩm chất thanh cao của người quân tử, sống không hổ thẹn với long min. nhà thơ thanh cao trong cách ăn uống sinh hoạt và cả trong cái niềm thích thú khi được hòa mình vào cuộc sống thiên nhiên.

    hai câu thơ kết khép lại bằng một phong thái ung dung tự tại:

    rượu, đến cội cây, ta sẽ uống,

    nhìn xem phú quý tựa chiêm bao.

    nhà thơ lấy điển tích thuần vu phần, một viên tướng ời ường, vì chán công danh, xin từ chức, về nhà uống rượu làyà một lần say, ngủ bên gốc cây hòe, chiêm bao ượ cuộc đời rất phú quý. he tỉnh dậy thì ra đang nằm cạnh tổ kiến ​​bên gốc cây hòe!

    nguyễn bỉnh khiêm cũng giống như thuần vu phần, coi phú quý chỉ là chuyện chiêm bao, chuyện hão huyền, chuyện phù du. câu thơ cuối có cách ngắt nhịp khác hẳn các câu thơ còn lại. thủng thẳng nói về cai thou nhàn dật rồi buông ra một câu kết như thế, nhà thơ đã thể hiện một cach dứt khoát thati ộ của mình ối với chuyện nguyễn tréi cao quan về ởn nhưng khi ược mời lại sẵn sàng ra giúp vua, giún nước bởi tấm lòng luôn “cuồn cuộn nước triều dâng” khiếng không không n. Để rồi ông đã không thoát được cái án oan khiên thảm khốc. còn nguyễn bỉnh khiêm, với một thế thời khác đã kiên định lối sống ở ẩn. trong một chừng mực nào đó, cách lựa chọn của trạng trình chưa hẳn đã là đúng. Song vì thếi, ể Giữ Gìn pHẩm Giá Thanh sạch của mình, việc lựa chọn cach sống ấy cũng là một điều đáng ểể chúsg ta trọng họ – những nhà nho ch.

    “nhàn” là bài thơ có nghệ thuật điêu luyện. từ ngữ giản dị, mộc mạc, tự nhiên mà ý vị, giàu chất triết lí, phần lớn là thuần việt. hình ảnh cô đọng, đối ngẫu chặt chẽ, điển cố hợp lí. nó đánh dấu một bước tiến của thơ nôm Đường luật ở nước ta trong thế kỉ xvi. tóm lại, bài thơ có nội dung sâu sắc, tiêu biểu cho phong cách thơ triết lí của nguyễn bỉnh khiêm. Xã Hội Phong Kiến Việt Nam Hồi Thế Kỷ XVI đang Chìm Trong Khủng Hoảng Trầm Trọng đã Khiến NHà THÁN CHÁN GÉL, Tìm Cách Xa Lánh Nó, Sống Trong Cảnh Nhàn ể Giữ Chom Hồnh Nó. “nhàn” mà trong sạch, cao quý, vì đó là một nét đẹp của tâm hồn kẻ sĩ thanh cao

    6. phân tích nhàn ngắn nhất

    chốn quan trường thời xưa ai cũng mong hòng có một chân trong những chức phận trong cung, người muốn thì nhiều mà người không muốn rời bỏ chốn quan trường thì it ít. nhà thơ nguyễn bỉnh khiêm một bậc quân thần trung quân ái quốc và một nhà nho đại tài đã trở về quê ở ẩn. trong khoảng thời gian ở ẩn nguyễn bỉnh khiêm đã sáng tác bài thơ nhàn thể hiện sự nhàn rỗi của mình khi rời bỏ chốn quan trường, ồng thời nhi lên n nh ” chỉ có thể đọc thơ của ông mới hiểu hết được quan điểm ấy . cái tên của bài thơ thật độc đáo và đặc biệt. nhan đề ấy chỉ có một từ nhưng đã nói lên tất cả những gì mà nhà thơ muốn gửi gắm. một tiếng nhàn thể hiện sự nhàn rỗi của with người trong cuộc sống thực tại. theo thông thường thì nhàn thì sẽ chỉ có ngồi mát ăn bát vàng thôi vậy thì nhàn mà nguyễn bỉnh khiêm muốn nói đến là gì?. nhan đề độc đáo như có tác dụng hấp dẫn người đọc hơn khi vào những tâm tư chia sẻ của nhà thơ ấy. Trước hết là hai câu thơ ầu với những hình ảnh quen thuộc của làng quê ồng ruộng nguyễn bỉnh khiêm giới thiệu cuộc sống mà ông coi là nhàn hạ choc

    một mai, một cuốc, một cần câu

    thơ thẩn dầu ai vui thú nào

    hình ảnh những vật dụng quen thuộc của công việc làm đồng cho thấy được những không gian êm ả yên tĩnh của làng quê. có thể mỗi nhà nho nghỉ quan về ở ẩn đều tìm đến chốn làng quê để cho tâm hồn mình thanh tịnh chứ không ở trên kinh thà. làng quê ấy không chỉ có những cảnh vật quen thuộc như cây đa bến nước mái đình mà ở đy làng quên lên trir nhữông ồáng cụngt d nào mai, nào cuốc những thứ ấy đều là công việc mệt nhọc của nhà nông. cái công việc mà làm quần quật cả ngày bán mặt cho đất bán lưng cho trời, một nắng hai sương. Ấy thế mà ở đây tác giả lại nơi đây là việc nhàn tại sao vậy. có thể nói so với nguyễn bỉnh khiêm thì đó là một công việc tuy mệt mỏi chân tay nhưng lại không mệt trí óc hay tâm hồn. chí ít ra thì ở đây ông có thể “thẩn thơ” với thú vui câu ca cảnh vật làng quê, tận hưởng sự bình yên không khí nơi đây.

    tiếp ến hai câu thơ sau thì chung ta thấy ược những quan niệm của nhà thơ về sự “khôn” “dại” trong việc làm quan there strong sạch:

    ta dại, ta tìm nơi vắng vẻ

    người khôn, người đến chốn lao xao

    chắc hẳn trước sự lựa chọn của nguyễn bỉnh khiêm thã nhiều người co thể nói ông là dại chính vì vế mà ông đã nói lên chính những tâm ủnh ểnh ểnh ểnh tác giả nói ta dại cho nên ta về nơi thôn quê vắng vẻ hẻo lánh để ở con người khôn người đến những chốn lao xao như. có thấy rằng ở đây tác giả đã thể hiện cách nói đối lập để làm rõ quan điểm của mình. Đồng thời cũng qua đó ta thấy được lẽ sống của những bậc nho gia thời xưa. người nhà nho không gì quý hơn là thanh danh và sự trong sạch của mình chính vì thế mà ai cũng hết sức lắng đục tìm trong đểể ko vẬ.t nơi vắng vẻ ở đây chính là chốn làng quê, chốn lao xao chính là nơi quan trường nhiều hiểm độc.

    tưởng chừng những nơi vắng vẻ kia nguy hiểm nhưng chính chôn lao xao kia mới là đáng sợ. bởi vì sao? Vì Trong Cái Chốn Thâm Cung NHIềU NGườI âM MưU NGHIệP LớN HM HạI LẫN NHAU, ấU đA DànH PhầN HơN Và Có Có thể bất chấp mọi thủ đoạn ể tiến lên. Chynh vì thế mà nhà thơ chán ghét và ặc biệt nói cach ở trên thì nhà thơ như Muôn người ọc tự hiểu ược như thế nào mới là dại mới là khôn thật sự.

    .

    cảnh sống nhàn của nguyễn bỉnh khiêm được thể hiện rất rõ trong hai câu thơ tiếp theo. Đó bức tranh của xuân hạ thu đông, bốn mùa của ất trời và khi ấy with người nhàn hạ kia đã có những thực phẩm thể ủnh:m ện s

    jue ăn măng trúc, đông ăn giá

    xuân tắm hồ sen, hạ tắm ao

    mùa thu tác giả ăn măng trúc trong rừng, mùa đông thì ăn giá đỗ, mùa xuân tắm hồ sen, mùa hạ tắm ao. cảnh sinh hoạt của nhà thơ nơi thôn dã thật sự rất bình thường thế nhưng qua đó ta thấy ược một tâm hồn ồng đu với thiutn nhiên, sống hoà hợn ồng đu với thiutn nhiên, sống hoà hợn the ồng đu với thi thnng. có thể nói nhà thơ như đang hòa mình vào đất trời. mùa đông ăn giá là giá đỗ hay cũng chính là cái giá lạnh của gió mùa đông bắc. thế nhưng cuộc sống như thế nhà thơ không cần phải lo nghĩ gì và theo quan điểm của nhà thơ thì đó chính là “nhàn”.

    cuộc sống nhàn ấy với một nhà nho không chỉ hoà hợp với thiên nhiên mà còn phải có cả rượu:

    rượu đến gốc cây, ta sẽ nhắp

    nhìn xem phú quý, tựa chiêm bao

    Đến rượu cũng thật sự là thiên nhiên qua hình ảnh rượu đến gốc cây. cai “nhắp” kia như vẽ lên một hình ảnh nhà nho già tây cầm ly rượu mà ưa lên môi nhắp lấy một cai ngâm trong miệng cai nồng nàn hơi men của rượu. thế rồi mắt đưa ra khung cảnh bầu trời mà mơ màng ngắm vịnh. Đối với nguyễn bỉnh khiêm thì đó chính là cuộc sống thanh đạm của nhà thơ song đối với ông thì đó chính là phú quý ửy v.chi m.chi

    bài thơ đã vẽ lên một nhà nho về quê ở ẩn với những thú vui lao động như bao nhiêu người nông dân khác. nếu như những người nông dân coi việc đó là chán ngắt thì với nguyễn bỉnh khiêm đó lại chính là thú vui. cuộc sống ạm bạc giản dị mà Thanh cao c cùng với quan điểm “khôn- dại” ta thấy hiện lên một nhà nho ạm bạc và một tâm hồn cao ẹp yêu thiên nhi biết biết biết

    //trên đây là các bài văn mẫu hoàn chỉnh phân tích bài thơ nhàn (nguyễn bỉnh khiêm),

    nguồn văn mẫu: sưu tầm & tổng hợp

    iv. kiến thức mở rộng bổ sung bài phân tích nhàn

    bên cạnh những nội dung luận điểm chynh trong phần dàn ý, trong quá trình làm bài các em có thể bổ sung thêm một số thông tin ôtt ặng thh phú và sâu sắc hơn.

    hoàn cảnh của tac giả khi sáng tac : nguyễn bỉnh khiêm làm quan 8 nĂm dưới triều mạc, một lần ông dâng sớ xin vua chém ông cao quan về qu xa rời chốn quan trường và trở về ởn tại làng quê, một cuộc sống an nhiên tựi tại tránh xa những bon chen thi của chốn quan trường. Ông sáng tác bài thơ này để thể hiện quan điểm và dại khôn ở đời.

    triết lí nhân sinh trong bài nhàn:

    hai câu thơ cuối bài thể hiện tập trung, sâu sắc quan niệm triết lí nhân sinh của tác giả. hai câu này lấy tích trong truyện đời Đường. Chuyện Kể Về Thuần vu phần là một viên tướng tài, tíh tình phony khoáng, do xúc pHạm thống soái, bị mắng nên từ chức về nhà, lấy uống rượu làm vui. MộT Hôm, vu phần say rượu ngủ bên gốc cây hòe, mơ thấy mình ược làm pHò mã chu vua nước hòe, ược hưởng giàu sag phú, tỉnh dậy mới biết đó đó à giấc mơ. tac giả mượn điển tích này ể bộc lộ thati ộộ xem thường phú quý, coi chốn quyền danh pHún quý chỉ là giấc chiêm bao, không có thọc, qua đó khẳng ịnh thêm một lầt lầt lầtm ứtm ứtm ứtm ứtm ứtm ứtm của riêng minh. lánh đời ẩn dật, cách ứng xử đó của tác giả có vẻ tiêu cực. nhưng trong hoàn cảnh nào đó, khi el muốn giữ gìn nhân cách, sự thanh thản, tĩnh tại cho mình, đó lại là cách ứng xử tích cực.

    – nhận định hay về tác giả nguyễn bỉnh khiêm và quan niệm sống nhàn:

    “ông nhàn là người sống với tư cach là một ca nhân, chứ không phải với tư cach thành viên của một cộng ồng nào đó, là một with ngườc ạc thúg, chadng n. . sống dưới chế độ chuyên chế theo nho giáo, with người bị trói buộc bởi hai sợi dây: nghĩa và phận. phận vạch ranh giới cho từng người, quy định mức cho mỗi người được ngồi, đứng, nói năng, xưng hô, ăn, ở. NGHĩA NHắC NHở MọI NGườI CÓR trach nhiệm ối với người trên kẻi dưới,… Trong xã hội tổc như vậy, with người không ược coi mình là ca nhn – ộc lập, cón cón c. do đó tìm nhàn dật là tìm cai vui cho thân tâm, tránh cai lụy hình dịch, là tìm thoot khỏi sự ràng buộc chặt chẽt chẽt chẽt mà vônh của -that chến chế Thehhe Nho Giac. bị ràng buộc. nhưng một mặt el không thể coi cá nhân là cô độc, coi cái “tôi” là trung tâm. cho nên cố tránh ràng buộc bằng cách từ bỏ danh lợi, không đi con ường công danh, giành phận vị, coi thường giàu nghèo, sang hèn, ứng ửn bungài s Để có chút thoải mái đó, ông nhàn phải chủ động tự hạn chế: không cậy tài, yên phận, không tranh giành và không động lòng, ᝺hen

    (trần Đình hượu, trong nguyễn bỉnh khiêm danh nhân văn hoá, bộ văn hoá thông tin và thể thao xuất bản, h, 1991)

    tổng kết nội dung hướng dẫn phân tích nhàn

    vậy là ọc tài liệu đã vừa giới thiệu ến các em những gợi ý chi tiết cách làm c cùng 4 mẫu bài văn hay phnch bài thơủn hhiỻ chi n hhi hello vọng bằng cách tham khảo cách làm và chắt lọc các ý văn hay từ những bài văn mẫu này, các em sẽ có cho mình một bài văn chi tiết và hoànthi chúc các em đạt điểm cao !

    Tham khảo: Soạn bài: Quê hương – Ngữ văn 8 Tập 2

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button