Giáo dục

Văn mẫu lớp 7: Phân tích bài thơ Qua Đèo Ngang của Bà Huyện Thanh Quan Dàn ý & 9 bài văn mẫu lớp 7 hay nhất

qua Đèo ngang là một bài thơ nổi tiếng của bà huyện thanh quan. tác phẩm được giới thiệu trong chương trình ngữ văn lớp 7.

download.vn sẽ cung cấp bài văn mẫu lớp 7: phân tích bài thơ qua Đèo ngang của bà huyện thanh quan, bao gồm dàn ý và 9 bài văn mẺ Ẻ giún học sinh. mời tham khảo nội dung chi tiết dưới đây.

Xem thêm: Phân tích bài qua đèo ngang

dàn ý phân tích bài thơ qua Đèo ngang

i. mở bài

giới thiệu về bà huyện thanh quan, nội dung chính bài thơ qua Đèo ngang.

ii. thanks bài

1. hai câu đề: cảnh vật thiên nhiên nơi Đèo ngang

– Thời Gian: “Bong xế tà”, đây là thời điểm kết thúc của một ngày, khi with người thường trở về nhà sau một ngày lao ĺụt vng v vậy mà nhà thơ lại m cho nỗi cô đơn trở nên tột cùng.

– khung cảnh thiên nhiên Đèo ngang:

  • “cỏ cây chen đá, lá chen hoa” là hình ảnh ước lệ mang tính biểu tượng.
  • Điệp từ: “chen” kết hợp với hình ảnh “đá, lá, hoa” gợi ra một thiên nhiên tuy hoang sơ nhưng lại tràn đầy sức sống.
  • => khung cảnh thiên nhiên Đèo ngang được nhà thơ khắc họa chỉ bằng vài nét nhưng lại hiện ra đầy chân thực và sinh động.

    2. hai câu thực: cuộc sống with người nơi Đèo ngang

    – giữa thiên nhiên hoang sơ và rộng lớn with người xuất hiện:

    nghệ thuật đảo ngữ:

    • lom khom – tiều vài chú: hình ảnh vài chú tiều với dáng đứng lom khom dưới chân núi.
    • lác đác – chợ mấy nhà: hình ảnh vài căn nhà nhỏ be thưa thớt, lác đác bên sông.
    • => nhấn mạnh vào sự nhỏ bé của with người trước thiên nhiên rộng lớn. with người chỉ nằm là một chấm buồn lặng lẽ giữa một thiên nhiên rộng lớn. cảnh vật và con người dường như có sự xa cách khiến cho không khí càng thêm hoang vu, cô quạnh.

      3. hai câu luận: tâm trạng nhớ nhà của nhà thơ khi đứng trước Đèo ngang

      – hình ảnh “with quốc quốc” và “cái gia gia” không chỉ là hình ảnh thực về hai loại chim (chim đỗ quyên, chim đa đa).

      – mà ở đy, nhà thơ đã sửng thủ phap phap ộng tả tĩnh: tiếng kêu “quốc quốc”, “đa đa” ể đó bộc lội nỗi lòng nhớ thương củnh ươc. /p>

      => hai câu thơ diễn tả nhớ nhung sâu đậm của bà huyện thanh quan.

      4. hai câu kết: nỗi cô đơn tột cùng của nhà thơ

      – câu thơ “dừng chân ứng lại, trời, non, nước” khắc họa hình ảnh nhà thơ một mình ứng tại nơi đèo ngang, ưa mắt nhìn ra xa cũng chỉ th ướy thhiên ướchiên thhiên thhiên thhiên thhiên thhiên thhiên thhiên thhiên thhiênthn , có núi non, dòng sông).

      – sự cô ơn của nhà thơ: “một mảnh tình riêng” – tình cảm riêng tưa của nhà thơ không có ai ểể chia sẻ, “ta với ta” – ều chỉ nhà thơ, lúc nàyyyy ối , cô đơn và lẻ loi.

      => hai câu kết khẳng định lại nỗi cô đơn, trống trải của tác giả trước thiên nhiên rộng lớn.

      iii. mở bài

      khẳng định lại giá trị nội dung và nghệ thuật của bài thơ qua Đèo ngang.

      phân tích bài thơ qua Đèo ngang – mẫu 1

      bà huyện thanh quan là một nữ thi sĩ nổi tiếng trong nền văn học trung đại của nước ta. “qua Đèo ngang” là một tác phẩm rất tiêu biểu cho phong cách thơ của bà. bài thơ đã khắc họa khung cảnh thiên nhiên Đèo ngang thoáng đãng mà heo hút, thấp thoáng sự sống con người nhưng vẫn còn hoang sơ. Đồng thời nhà thơ with qua đó gửi gắm nỗi nhớ nước thương nhà.

      tác giả đã khắc họa khung cảnh thiên nhiên nơi Đèo ngang trong một buổi chiều tà:

      “bước tới Đèo ngang, bong xế tà, cỏ cây chen đá, lá chen hoa”

      cụm từ “bóng xế tà” gợi ra thời điểm kết thúc của một ngày. nhà thơ đang một mình đứng trước nơi đèo ngang. tiếp đến câu thơ “cỏ cây chen đá, lá chen hoa” là hình ảnh ước lệ mang tính biểu tượng, khắc họa khung cảnh thiên nhiên đèo ngang. việc sử dụng điệp từ “chen” kết hợp với hình ảnh “đá, lá, hoa” thật tinh tế. vẻ đẹp thiên nhiên của đèo ngang tuy hoang sơ nhưng lại tràn đầy sức sống. khung cảnh thiên nhiên Đèo ngang được nhà thơ khắc họa chỉ bằng vài nét nhưng lại hiện ra đầy chân thực và sinh động.

      và không thể thiếu trong bức tranh thiên nhiên đó là hình ảnh with người. nghệ thuật đảo ngữ “lom khom – tiều vài chú” cho thấy hình ảnh vài chú tiều với dáng đứng lom khom dưới chân núi. và “lác đác – chợ mấy nhà” gợi ra hình ảnh vài căn nhà nhỏ be thưa thớt, lác đác bên sông. nhà thơ muốn nhấn mạnh vào sự nhỏ bé của con người trước thiên nhiên rộng lớn. with người chỉ nằm là một chấm buồn lặng lẽ giữa một thiên nhiên rộng lớn. thiên nhiên mới là trung tâm trong bức tranh đèo ngang.

      thiên nhiên càng cô quạnh, tâm trạng của tác giả càng cô đơn. Điều đó được bộc lộ ở những câu thơ tiếp theo:

      “nhớ nước, đau lòng, with quốc quốc thương nhà mỏi miệng, cái gia gia”

      hình ảnh “with quốc quốc” và “cái gia gia” không chỉ là hình ảnh thực về hai loại chim (chim đỗ quyên, chim đa đa). Việc sử dụng thủ phap phap ộng tả tĩnh: tiếng kêu “quốc quốc”, “đa đa” ể đ đ qa đó bộc lộ nỗi lòng nhớ thương của mình với ất nước, quê hương. Đọc đến đây, chúng ta dường như có thể lắng nghe được tiếng kêu khắc khoải, da diết đang vang lên trong vô vọng.

      câu thơ “dừng chân ứng lại, trời, non, nước” khắc họa hình ảnh nhà thơ một mình ứng tại nơi đèo ngang, , thina, thina, thina, thina, thina, thina, thina, thina, thina, thina, thina, thina, thina, thya, thya, trávir. có núi non, dòng sông). sự cô đơn của nhà thơ: “một mảnh tình riêng” – tình cảm riêng tư của nhà thơ không có ai để chia sẻ:

      “dừng chân đứng lại trời, non, nước một mảnh tình riêng, ta với ta”

      trong thơ nguyễn khuyến cũng từng sử dụng cụm từ “ta với ta”:

      “Đầu trò tiếp khách trầu không có bác đến chơi đây ta với ta”

      trong “bạn đến chơi nhà, từ “ta” đầu tiên chỉ chính nhà thơ – chủ nhà, còn từ “ta” thứ hai chỉ người bạn – khách đến chơ. từ “với” thể hiện mối quan hệ song hành, gắn bó dường như không còn khoảng cách. qua đó thể hiện tình bạn gắn bó tri âm tri kỷ của nhà thơ. Còn Trong Thơ Bà Huyện Thanh Quan, Cụm Từ “Ta Với ta” ở đây ều chỉ nhà thơ, lúc này bà chỉ có một mình ối diện với chính mình, cô sự cô ơn ấy dường như chẳng thểng thể

      như vậy, qua đèo ngang đã thể hiện được tâm trạng của bà huyện thanh quan trước khung cảnh đèo ngang hoang sơ. bài thơ chứa đựng những tình cảm, ý nghĩa sâu sắc.

      phân tích bài thơ qua Đèo ngang – mẫu 2

      “có nơi đâu đẹp tuyệt vời như sông như núi, như người việt nam”

      câu thơ thể hiện niềm kiêu hãnh, tự hào về non sông đất trời việt nam. thiên nhiên trên quê hương ta có vẻ đẹp mộng mơ, chan hòa sức sống. chính vì vậy, thiên nhiên luôn là đề tài bất tận của thi ca. lúc thì lung linh, huyền diệu như trong mộng, lúc lại rực rỡ, kiêu sa tựa ánh mặt trời. bài thơ “qua Đèo ngang” của bà huyện thanh quan là một trong số đó.

      “bước tới Đèo ngang, bong xế tà, cỏ cây chen đá, lá chen hoa. lom khom dưới núi, tiều vài chú, lác đác bên sông, chợ mấy nhà. nhớ nước, đau lòng, with quốc quốc, thương nhà mỏi miệng, cái gia gia. dừng chân đứng lại, trời, non, nước, một mảnh tình riêng, ta với ta.”

      câu thơ mở đầu gợi mở về không gian, thời gian. cụm từ “bóng xế tà” gợi ra thời điểm chiều tà đã bao trùm lên không gian đèo ngang. tiếp đến nhà thơ sử dụng điệp từ “chen” cùng cách gieo vần lưng “lá, đá” đã tạo nên sự cô đơn, tĩnh mịch. từ tà như diễn tả một khái niệm sắp tàn lụa, biến mất. yếu tố thời gian làm cho câu thơ thêm phần buồn bã. ca dao cũng đã có câu:

      “vẳng nghe chim vịt kêu chiều bâng khuâng nhớ mẹ, chín chiều ruột đau”

      thế mới biết, những tình cảm cao quý của mỗi người dường như gặp nhau ở một điểm. Đó chính là thời gian. mà quãng thời gian thích hợp nhất để bộc lộ sự nhớ nhung khắc khoải chính là lúc chiều về. Ở bài thơ “qua đèo ngang”, tác giả bỗng dâng lên cảm xúc man mác khi bà bắt gặp ánh hoàng hôn bao phủ cảnh vật.

      không chỉ là thiên nhiên, mà con người cũng xuất hiện trong bức tranh nơi đèo ngang:

      “lom khom dưới núi tiều vài chú lác đác bên sông, chợ mấy nhà”

      Tham khảo: Bộ tranh tô màu con mực dễ thương dành cho bé Update 11/2022

      câu thơ gợi cho tả hình dung trong ánh hoàng hôn lạnh lẽo, mấy người tiều phu đang đốn củi, mấy quán chợ xiêu xiêu trong gio. Đảo ngữ đưa hai từ láy lom khom, lác đác lên đầu câu đã được tác giả sử dụng như nhấn mạnh thêm sự u hoài ở. nhà thơ đi tìm một sự sống nhưng sự sống đó lại làm cho cảnh vật héo hắt, buồn bã hơn, xa vắng hơn.

      sự đối lập vốn có của hai câu thực khiến cho cảnh trên sông, dưới núi thêm rời rạc, thưa thớt. từ “vài, mấy” như càng nói rõ thêm sự vắng vẻ ở nơi này. trong sự hiu quạnh đó, bỗng nhiên vẳng lên tiếng kêu đều đều, man mác của loài chim quốc quốc, chim gia gia trong bóng hoàng hôn đang buông xuống.

      từ ghép “đau lòng, mỏi miệng” khiến cho ta có cảm giác tha thiết, ray rứt. từ “nhớ nước, thương nhà” là nỗi niềm của with chim quốc, chim gia gia do tac giả cảm nhận ược there are chynh là nghệ thuật ẩn dụ ể ể ể ể ể ể ể ể ể ể ể ể ể ể ể ể nghệ thuật chơi chữ quốc quốc gia giá phải chăng là tổ quốc và gia đình của bà huyện thanh quan hồi đó?

      Sự Song Song về ý, vềii của hai câu thơ trong phần lận của bài thơ này nHằm nhấn mạnh tình cảm của bà huyện than ối với tổc, gia đinh trước cảnh thét. từ thực tại của xã hội đương đời mà bà đang sống cho đến cảnh thực của đèo ngang đã khiến cho tác giả sực nhựm đ>

      “dừng chân đứng lại trời non nước một mảnh tình riêng ta với ta.”

      câu kết của bài, ta cảm thấy nhà thơ có tâm sự u hoài về quá khứ. dừng lại và quan sát bà chỉ thấy: trời, non, nước. Vũ trụ thật rộng lớn, xung quanh bà là cả một bầu trời với noui, với sông khiến cho with người cảm thấy mình bé nhỏ lại, ơn ộc, trống vắng, ở ở ở ở ở ở ở ở ở trống vắng, ở ở ở ở ở ở ở ở ở ở ở ở ở ở ở ở ở ở ở ở ở ở ở. mảnh tình riêng cho nước, cho nhà trong huyết quản đã làm cho cõi lòng nhà thơ như tê tái.

      bài thơ “qua Đèo ngang” đã khắc họa khung cảnh thiên nhiên Đèo ngang thoáng đãng mà heo hút, thấp thoáng sự sống con người nhưng vẫn còn hoang. Đồng thời thể hiện nỗi nhớ nước thương nhà.

      phân tích bài thơ qua Đèo ngang – mẫu 3

      một trong những tác phẩm tiêu biểu của bà huyện thanh quan là “qua Đèo ngang”. với bài thơ này, tác giả đã gửi gắm tình yêu quê hương đất nước sâu sắc.

      “qua đèo ngang” gợi lên sự điềm tĩnh, nhẹ nhàng, trầm buồn của bà huyện thanh quan làm tiêu biểu cho phong cách thơ. bài thơ “qua đèo ngang” được tác giả sáng tác trong hoàn cảnh vào phú xuân(huế) nhận chức và đi ngang qua đèo này. cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi buồn man mác, nhớ nhà, quê hương, thương cho thân người con gái yếu đuối đờng xa. bài thơ được sáng tác theo thể thất ngôn bát cú. với tám câu thơ mà đã thấy được những thần thái, cái hồn trong cảnh vật và con người trước cảnh núi rừng hiu quạnh.

      “bước tới Đèo ngang bóng xế tà cỏ cây chen lá, đá chen hoa”

      hai câu đề hiện rõ khung cảnh rừng núi hoang sơ lúc “bong xế tà”. một cảnh chiều nặng nề làm cho lòng người trở nên u buồn, gợn sầu hơn. tất cả như gợi lên nỗi nhớ muốn tỏ rõ nỗi lòng mà không ai bầu bạn, sẻ chia. chỉ có “cây cỏ chen lá, đá chen hoa” hiu quạnh. Điệp từ “chen” khẳng định sức sống mạnh mẽ của cỏ, cây, bấu víu để sinh sôi nảy nở.

      “lom khom dưới núi tiều vài chú lác đác bên sông chợ mấy nhà”

      Đến hai câu thơ tiếp theo thì mới thấy bong dáng của with người. hai từ láy “lom khom”, “lác đác” cho thấy sự thưa thớt, vắng vẻ của with người. trong bức tranh thiên nhiên này, with người chỉ là một điều nhỏ bé.

      tiếp đến, bà huyện thanh quan đã bộc lộ tâm trạng của mình khi đứng trước đèo ngang:

      “nhớ nước đau lòng with cuốc cuốc thương nhà mỏi miệng cái gia gia”

      giữa chốn rừng sâu vắng lặng, vang lên tiếng chim cuốc đau lòng não ruột. Đó cũng có thể là thanh âm thật là hay là tiếng lòng trong tâm trạng nhà thơ. mượn bút pháp ước lệ và nghệ thuật chơi chữ để nói lên tiếng lòng mình trước cảnh. tiếng chim kêu làm tăng phần cô quạnh, phải chăng đó là tâm trạng hoài vọng nhớ thương nước nhà?

      cai bao la, vôn tận của non nước làm chơi vơi bongo hình một mình giữa thiên nhiên, hồn cảnh – hồn người như hòa lẫn vào nhau, làm nỗi bu bu diết bị.

      “dừng chân đứng lại trời non nước một mảnh tình riêng ta với ta”

      tiếng lòng non nước thấm thía, không san sẻ buộc nhà thơ thốt lên giãi bày “ta với ta” nghe chua xót. chỉ ta mới hiểu được lòng ta, sự cô đơn như tăng lên gấp bội. DùU MUộI NHư Bà HUYệN THANH quan vẫn cảm nhận ược vẻ ẹp non nước dù nơi dừng chân có vẻ hoang sơ, nhưng her đã tôn vẻ ẹp hùng vĩ, bao la của num rừng.

      bài thơ “qua đèo ngang” vừa gợi lên một bức tranh về cảnh ẹp thiên nhiên noui rừng hoang sơ, hùng vĩ, vừa gợi rkung cảnh sống giản dị, ơn sơ sơ sơ sơ s từ đó mang lại những cảm xúc, nỗi niềm, riêng tư của tác giả với tình yêu quê hương, ất nước diết khi xa cheese hương, lẻ loi một bong hình nơ ơt khi quhán quhán quhán quhán quhán quhán quhán quhán quhán quhán qu. ất khi quháê hương, lẻ loi một bónng hình nơ ơ ất khi quhi quhá, lẻ loi một bónng hình nơ ơ ất khi quhán.

      phân tích bài thơ qua Đèo ngang – mẫu 4

      bà huyện thanh quan một trong những nữ văn sĩ nổi tiếng của văn học trung đại việt nam. from her thơ văn bà để lại cho hậu thế không còn nhiều, trong đó nổi tiếng nhất là phải kể đến bài qua đèo ngang. Đây là bài thơ tả cảnh ngụ tình, bộc lộ nỗi niềm, tâm trạng của bà khi ella trên đường vào kinh đô huế nhận chức. mở đầu bài thơ là bức tranh phong cảnh thấm đẫm nỗi buồn hiu quạnh:

      “bước đến đèo ngang bong xế tà cỏ cây chen đá, lá chen hoa”

      hai câu thơ mở ra không gian, thời gian nghệ thuật quen thuộc trong thơ trung ại, đy ồng thời cũng là nét ặc trưng phong cách của bà huyện than chih thời gian là buổi chiều nhưng không phải là lúc ầu hôm mà là chiều tà, thời điểm chuyển giao giữa chiều và tối, ánh nòp nhắ vt nhạ nhạ không gian mênh mông, rộng lớn, với cả trời, non, nước nhưng tất cả đều im ắng, vắng lặng đến rợn ngợp.

      trong không gian đó, hình ảnh cây cối, hoa cỏ hiện lên có phần hoang dại, chúng chen chúc nhau mọc lên. từ “chen” gợi sức sống mãnh liệt của muôn loài trước cái cằn cỗi của đất đai, cái khắc nghiệt của thời tiết. Đồng thời từ này con gợi lên thiên nhiên có phần hoang dã, vô trật tự. không gian và thiên nhiên cây cỏ hòa quyện vào nhau càng làm sâu đậm thêm ấn tượng về mảnh đất hoang vu. bức tranh được điểm thêm hơi thở, sự sống của with người:

      “lom khom dưới núi tiều vài chú lác đác bên sông chợ mấy nhà”

      những tưởng rằng với sự xuất hiện của sựng with người quang cảnh sẽ bớt vắng lặng, cô ơn hơn nhưng thực tế lại không phải vậy. sự xuất hiện của con người trái lại càng khiến cảnh vật thêm phần heo hút, hoang vắng hơn. NGHệ Thuật ảo ngữ nhấn mạnh vào dáng “lom khom” của những chú tiều, cai “lac đác” hiu quạnh lại càng hiu quạnh hơn.

      bức tranh về một thế giới cô liêu hiện lên rõ hơn bao giờ hết. nhìn lại cả hai câu thơ ta thấy chúng có đầy đủ các yếu tố của một bức tranh sơn thủy, hữu tình: núi, sông, tiềều phu, ch thế nhưng những yếu tố ấy khi hợp lại với nhau và khúc xạ qua cảm nhận của nhà thơ lại gợi lên một miền sơn cu.

      bốn câu thơ cuối nói lên nỗi niềm, tâm sự của tác giả: “nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc/thương nhà mỏi miệng cái gia gia”. những âm thanh của cuốc kêu cũng chính là nỗi lòng của bà huyện thanh quan. tài dùng chữa của bà đã ạt ến ộ ộ điêu luyện: chữc là nước ồng âm với chữc cuốc tức with chim, chữ gia là nhà gần âm với từ đa là chim đa đa đa đa đa đa đa đa đa đa đ

      chữ vừa ghi âm thanh nhưng đồng thời còn bộc lộ tâm trạng, ý tứ của tác giả, qua đó làm nổi bật tâm trạng, nỗi m c. vì ella phải xa quê hương, vào miền đất mới nhận chức nên bà nhớ nhà, nhớ gia đình. còn nhớ nước tức là bà đang nhớ về quá khứ huy hoàng của triều đại cũ. hai chữ nhớ nước, thương nhà được tác giả đảo lên đầu câu càng nhấn mạnh và làm nổi bật nỗi niềm của bà.

      hai câu thơ cuối bộc lộcc tiếp nỗi niềm cô ơn khắc khoải của nhà thơ: “dừng chân ứng lại trời, non, nước/ một mảnh tình riêng ta với ta”. không gian mênh mông khiến with người lại càng trở nên bé nhỏ, cô đơn hơn. sự vật tưởng là hòa quyện, gắn kết với nhau mà thực chất lại đang chia later đôi ngả, trời, non, nước ược tách biệi nhau bằng những dấy, đó là ca nh ủt tth. /p>

      câu thơ cuối như là một lời khẳng định trực tiếp nỗi cô đơn đó “một mảnh tình” “ta với ta”. Đại từ “ta” không con mang ý nghĩa chỉ chung, cộng đồng mà là cá nhân, chỉ một mình tác giả. trong hai câu kết, tất cả là một sự gián cách, là một thế giới riêng, cô đơn đến tuyệt đối.

      không chỉ đặc sắc về nội dung, tác phẩm còn là điển hình mẫu mực về nghệ thuật cổ điển Đường thi. bà sử dụng thể thơ thất ngôn bát cú, chuẩn mực về niêm, luật, đối, ngôn ngữ trau chuốt, mượt mà mặc dù đã được việt. she sử dụng thành công đảo ngữ, chơi chữ. nghệ thuật tả cảnh ngụ tình xuất sắc, tả cảnh vật mà bộc lộ nỗi niềm, tâm trạng của tác giả.

      qua bài thơ “qua đèo ngang” ta không chỉn tượng bởi nghệ thuật tài tình, kết hợp nhuần nhuyễn giữa chất cổ điển ường thi và chất dân dã của d. bức tranh phong cảnh đèo ngang hiu quanh, mênh mông đã thể hiện tâm trạng buồn bã, nỗi niềm nhớ nước, thương nhà của tác giả.

      phân tích bài thơ qua Đèo ngang – mẫu 5

      ai đã từng một lần đi trên with đường xuyên việt, hẳn đều biết đến đèo ngang. Đây là một đèo khá dài và khá cao, nằm vắt ngang sườn núi cheo leo, hiểm trở của khúc cuối dãy hoành sơn, trước khi đâm ra biển. hình ảnh đèo ngang đã được đưa vào bài thơ “qua Đèo ngang” của bà huyện thanh quan, nhằm gửi gắm nhiều ý nghĩa sâu sắc.

      Đèo ngang là ranh giới tự nhiên giữa hà tĩnh và quảng bình. Thuở xưa, bao người vào kinh đô huế ể ể thi cử there are làm việc cho triều đình phong kiến ​​đã đi qua đèo này rồi lâng lâng xúc cảm trước vẻ ẹ bà huyện thanh quan nhân dịp từ thăng long vào huế nhậm chức cung trung giáo tập (dạy dỗ các cung nữ trong cung) đã sáng tác bài qua đèo ngang.

      Đằng sau bức tranh phong cảnh thiên nhiên là tâm trạng của nữ sĩ: cô đơn, nhớ nhà và hoài niệm về một thời đại huyữ hoàng. có thể coi đây là bài thơ hay nhất trong những bài thơ de ella sáng tác về thắng cảnh này. câu phá đề đơn giản chỉ là lời giới thiệu về thời điểm tác giả đặt chân đến đèo ngang:

      bước tới đèo ngang bong xế tà. Đó là lúc mặt trời đang lặn, phía tây chỉ còn chút nắng hắt những tia sáng yếu ớt lên nền trời đang sẫm dần. thời điểm này rất dễ gợi buồn trong lòng người, nhất là đối với kẻ lữ thứ tha hương. tuy vậy, trời vẫn còn đủ sáng để nhà thơ nhận ra thiên nhiên nơi đây đẹp như một bức tranh thủy mặc: “cỏ cây”.

      đa

      có cái gì đó như linh hồn của tạo vật thấp thoáng sau từng chữ. Điệp từ chen, các vế đối: cây chen đá, lá chen hoa miêu tả sức sống mãnh liệt của một vùng rừng núi hoang vu. cảnh đẹp thì có đẹp nhưng nhuốm màu buồn bã, quạnh hiu, thiếu hơi ấm con người. những bông hoa rừng đây đó không đủ làm sáng, làm vui bức tranh núi non lúc ngày tàn, đêm xuống.

      trên bối cảnh thiên nhiên bao la ấy thấp thoáng bóng dáng con người và hơi hướng cuộc sống nhưng cũng chỉ ít ỏi, mờ nhạ:

      , xa v

      “lom khom dưới núi tiều vài chú, lác đác bên sông chợ mấy nhà.”

      with mắt tinh tế của nhà thơ phát hiện ra nét ặc trưng của người và cảnh trước tiên nên bà đã dùng nghệ thuật ảo ngữ ể nhấn mạnh ặc trưng ấy. dáng vẻ lom khom của mấy chú tiều hái củi sườn non làm cho con người vốn đã nhỏ bé lại càng thêm nhỏ bé trước thiên nhiên cao r.></p

      cai chợ là nơi biểu hiện sức sống của một cộng ồng làng xã, lẽ ra tấp nập đông vui, nhưng ở đy nó chỉ là mấy tunp lều xơ xác bên sông … và nỗI :

      “nhớ nước đau lòng con quốc quốc, thương nhà mỏi miệng cái gia gia.”

      giữa không gian tĩnh lặng gần như tuyệt đối ấy bỗng vẳng lên tiếng chim quốc khắc khoải, tiếng chim đa đa não nuột. Đó là những âm thanh có thật mà cũng có thể là tiếng vọng từ tâm trạng chất chứa nỗi buồn thời cuộc của nhà thơ. mượn bút pháp ước lệ và nghệ thuật chơi chữ (từ đồng âm khác nghĩa) để nói lên lòng mình trİớc cảnh, đó là thi>

      tiếng chim kêu không làm cho cảnh vui lên thêm chút nào mà lại làm tăng phần quạnh quẽ, cô liêu. phải chăng tiếng chim chính là tiếng lòng của kẻ đang mang nặng tâm trạng u buồn, hoài vọng, nhớ nước thương nhà?!

      hồn cảnh, hồn người như có nét tương đồng, cho dù về hình thức hoàn toàn tương phản. cái bao la, vô tận của non nước tô đậm cái cô đơn, chơ vơ của con người và ngược lại. vì vậy nên nỗi buồn càng lắng đọng:

      “dừng chân đứng lại trời, non, nước, một mảnh tình riêng, ta với ta.”

      quả là một nỗi buồn lớn lao, thấm thía, khó san sẻ, giãi bày. nó như kết thành hình, thành khối, thành mảnh tình riêng khiến nhà thơ phải thốt lên chua xót: ta với ta. chỉ có ta hiểu lòng ta mà thôi! vì thế nên sự cô đơn càng tăng lên gấp bội.

      bài thơ “qua Đèo ngang” tuy ra đời cách đây đã hơn một thế kỉ nhưng giá trị của nó vẫn nguyên vẹn trước thử thách của gian th. bao người yêu thơ thuộc lòng bài thơ này và ca ngợi tài năng của tác giả. thể thơ ường luật kiểu cach, sang trọng vào tay nữ sĩ đã trở thành gần gũi, dễ hiểu với người ọc bởi ngôn ngữ giản dị, trong sáng và những hình ảnh ân.

      phân tích bài thơ qua Đèo ngang – mẫu 6

      bài thơ “qua Đèo ngang” của bà huyện thanh quan được sáng tác khi bà đi ngang with đèo này để vào kinh thành huế nhận chức làm quan. bài thơ nói lên nỗi nhớ quê hương gia đình của người con gái đi xa, nỗi thương thân của phụ nữ nơi đất khách quêi ng. lối thơ nhẹ nhàng điềm tĩnh của tác giả được thể hiện rõ qua bài thơ này.

      “trèo đèo hai mái chân vân lòng về hà tĩnh, dạ ân quảng bình”

      nằm giữa hai đầu nỗi nhớ, gánh trọn ân tình của nữ sĩ về bức tranh thiên nhiên hoang sơ đậm chất tình. bà huyện thanh quan dùng lối viết tự nhiên mà sâu lắng, hoài cảm đi vào lòng người. Trên with ường vào phú xuân, nữ sĩ bắt gặp phong cảnh đèo ngang, từó khơi gợi nỗi buồn của người with gai ường xa chất chứa bao nỗi nhớ thương:

      “bước tới đèo ngang, bong xế tà cỏ cây chen lá, đá chen hoa”

      bức tranh vẽ ra vào buổi chiều tà, vào thời gian vắng vẻ và hoang vu trong ngày. nếu được thay bằng “nắng tà” thì khung cảnh sẽ sinh động hơn. một buổi chiều có nắng vàng, hoa lá và đá, vậy tại sao nữ sĩ lại không chọn nắng? thời điểm chiều tà làm cho lòng người nôn nấu một nỗi hoài cổ, chất xúc tác làm tâm trạng con người cất thành tiếng.

      Tham khảo: Nhìn về vốn văn hóa dân tộc – Trần Đình Hượu

      bức tranh thiên nhiên hoang sơ đượm màu buồn, liệu tâm hồn nữ sĩ có đủ mạnh mẽ vượt qua? Điệp từ “chen” nhấn mạnh sự đơn lẻ, cô liêu. sự sống sắp lụi tàn, hoa lá cỏ cây đang cuống quýt, nồng say bám chặt lấy sự sinh tồn trên mảnh đất cằn cỗi.

      “lom khom dưới núi tiều vài chú lác đác bên sông chợ mấy nhà”

      bức tranh lúc này đã có sự xuất hiện của with người nhưng nó cóc thể làm mờ nhạt bớt phần nào trong sựng vắng của tâm hồn người thứ lữ? ” tiều vài chú” chỉ có một vài chú tiều đi gom củi phía dưới chân núi. từ đó, làm tăng cường độ mỏng manh của sự sống. nó hư vô, mờ ảo như thể sẽ biến mất. tác giả đã dùng nghệ thuật phép đảo để thay đổi trật tự cú pháp ở hai câu này làm toát lên cảnh hắt hiu, hoang sơ củo > này

      từ láy ”lom khom” chỉ hoạt động gồng gánh gian nan và “lác đác” nói lên mức độ số lượng được ước tính cụ thể. những hình ảnh ước lệ ấy đã bộc lộ ra hết cảm xúc, muốn lắm, cần lắm ược chạm ến sựng và khao khát ược nhìn thấy with người. Ôi chỉ là ảo ảnh! nơi này, nữ sĩ biết tìm đâu người bạn đường để trò chuyện chia sẻ bao nỗi niềm.

      “nhớ nước đau lòng con quốc quốc thương nhà mỏi miệng cái gia gia”

      hai câu luận tiếp theo làm trỗi dậy nỗi niềm tiềm ẩn của người thứ lữ. ”con quốc quốc” “cái gia gia” âm hưởng nhẹ nhàng mà thấm đẫm đến tâm can con người. người khách phương xa cô đơn nghe văng vẳng tiếng chim cuốc mà lòng tê tái, não nề.

      ở đy, tác giả dùng thủ pháp dùng ộng ể ể tả tĩnh thật tinh tế, thứ âm thanh coi cuốc nơi xa kia làm bệ phón cho tác vm ửi ụ tr. . thương nước nhà đang chìm trong tình cảnh loạn lạc, xót xa thân phận gái xa nhà độc hành. nỗi lòng thương xót ấy như được trùng trùng điệp điệp không ngơi nghỉ.

      “dừng chân nghỉ lại trời non nước một mảnh tình riêng ta với ta.”

      hai câu kết đưa xúc cảm của nữ sĩ lên đến đỉnh điểm của cảm xúc cao trào. ”dừng chân” phần nào làm cho mạch cảm hứng của người đọc ngắt đoạn. nhờ đó, mới diễn tả hết tâm trạng của nữ sĩ giữa núi rừng heo hút. cái mênh mông, vô tận của núi rừng níu chân người thứ lữ. ai đã từng một mình trước biển mà không choáng ngợp ?ai đã yêu một người mà chưa từng nhớ nhung?

      thật vậy, giữa thế giới bao la, vô tận ấy làm đôi chân nhỏ bé không thể bước nổi. sự đơn độc ấy làm người thứ lữ yếu đuối. người con gái ấy lại một lần nữa khao khát ược hòa mình vào thiên nhiên núi rừng, ược che lấp sự yếu đuối.mối, ơn ối núi rừng bao la, rộng lớn bao nhiêu thì sự cô đơn, trống vắng của nữ sĩ lại càng tăng bấy nhiêu.

      từ đó, ta đủ cảm nhận “mảnh tình riêng” đơn độc đến tiếc nuối. thể thất ngôn bát cú với cấu trúc đề thực luận kết, cách hiệp vần và phép đối trong bài thơ tóm gọn bao cảm xúc trong lòng i đ. những tâm tư ấy đẹp biết bao qua lăng kính của tâm hồn người nữ sĩ một lòng một người yêu nước, thương dân.

      bài thơ “qua đèo ngang” mang đến một phong cách mới mẻ về bức tranh thiên nhiên hùng vĩ, mang đậm chất trữ tình của nữ sĩ. những vần thơ ấy sẽ còn mãi trong tâm trí người đọc, có một người yêu thiên nhiên, yêu đất nước đến vậy.

      phân tích bài thơ qua Đèo ngang – mẫu 7

      trong nền văn học hiện ại nếu như chung ta bắt gặp sực sảo, mạnh mẽ, bứt pHá trong thơ của hồ xuân hương thì chắc hẳn rằng sẽy ấc sự đm tĩ ủnhn ủnhn ủnhn ủnhn ủnhn ủm, n. quan bài thơ “qua đèo ngang” tiêu biểu cho phong cách ấy.

      bài thơ được sáng tác khi tác giả vào phú xuân (huế) nhận chức và đi qua đèo này. cảm hứng chủ đạo của bài thơ là nỗi buồn man mác, nhớ nhà, nhớ quê hương và thương cho thân gái nơi đường xa. bài thơ được sáng tác theo thể thất ngôn bát cú với cấu trúc đề, thực, luận kết.

      chỉ tam câu thơ nhưng nó đã diễn tả ược hết cai thần thati, cai hồn của cảnh vật cũng như của with người khi ứng trước cảnh trời hiu quạng ng ng. hai câu đề gợi lên trước mắt người đọc khung cảnh hoang sơ nơi đèo ngang:

      “bước tới đèo ngang bóng xế tà cỏ cây chen lá, lá chen hoa”

      không gian và thời gian ở đèo ngang được tác giả thể hiện qua từ “bong xế tà”. có thể nói đây là thời gian là cảm xúc trong lòng người dường như nặng nề, gợi buồn, gợi sầu hơn. trong ca dao, dân ca, chúng ta vẫn bắt gặp thời điểm chiều tả để đặc tả nỗi buồn không biết bày tỏ cùng ai. mặt trời xuống núi, hoàng hôn sắp bao phủ lấy nơi này.

      cảm giác cô đơn, lạc lõng. cảnh vật thiên nhiên nơi đây dường như quạnh quẽ đến nao lòng. chỉ có cỏ cây và hoa. Điệp từ “chen” dường như đã làm tăng thêm tính chất hiu quạnh của địa danh này. hoa lá đang quấn quýt lấy nhau, bám chặt nhau để sống, sinh sôi.

      “lom khom dưới núi tiều vài chú lác đác bên sông chợ mấy nhà”

      Đến hai câu thực thì mới thấp thoáng hình ảnh con người, nhưng cũng chỉ là “tiều vài chú”. hóa ra chỉ là một vài chú tiều bé nhỏ đi nhặt củi ở dưới chân núi. mặc dù có sự sống nhưng mong manh và hư vô quá. với phép đảo trật tự cú pháp ở hai câu thơ này, bà huyện thanh quan đã một lần nữa nhấn mạnh sự hoang sơ, hiu quạnh của ang.

      việc sử dụng hai từ láy “lom khom” và “lác đác” vừa chỉ hoạt động gánh củi vất vả vừa chỉ ước tính số lượng cụ th. những hình ảnh ước lệ trong thơ bà huyện thanh quan đã lột tả hết thần thái cũng như cảm xúc của tác giả lúc đó. những sự sống hiếm hoi, lẻ loi và mong manh đang chờn vờn ở ngay trước mắt nhưng xa lắm. muốn tìm bạn để tâm sự cũng trở nên khó khăn. sang đến hai câu thơ luận thì cảm xúc và tâm sự của tác giả bỗng nhiên trỗi dậy

      “nhớ nước đau lòng con quốc quốc thương nhà mỏi miệng cái gia gia”

      Điệp âm “with quốc quốc” và “cái gia gia” đã tạo nên âm hưởng dìu dặt, du dương nhưng vô cùng não nề thấm đến tâm can. người lữ khách đường xa nghe văng vẳng tiếng cuốc và da da kêu mà lòng quạnh hiu, buồn tái tê. thủ phap phap ộng tả tĩnh của tac giả thật ắc điệu, trên cai nền tĩnh lặng, quạnh quẽng nhiên fo tiếng chim ke ku thực sự càng thêm nèm nề thêng.

      “dừng chân nghỉ lại trời non nước một mảnh tình riêng ta với ta”

      chỉ bốn chữ “dừng chân nghỉ lại” cũng đã khiến người đọc cảm thấy da diết, bồn chồn đến não nề. cảnh trời nước mênh mông, vô tận nhưng con người thì bé nhỏ khiến cho tác giả thấy mình lạc lõng và không một nơi bấu víu. Đất trời rộng lớn, tác giả chỉ cảm thấy with “một mảnh tình riêng”. và cái mảnh tình con con ấy cũng chỉ có “ta với ta”. nỗi buồn dường như trở nên cực độ, buồn thấu tận tâm can, buồn nghiêng ngả trời đất.

      bài thơ “qua đèo ngang” với giọng điệu da diết, trầm bổng, du dương và những thủ PHAPPP dư âm của bài thơ dường như còn vang vọng đâu đây.

      phân tích bài thơ qua Đèo ngang – mẫu 8

      qua Đèo ngang là một tác phẩm tiêu biểu của bà huyện thanh quan. bài thơ gửi gắm tấm lòng yêu nước sâu nặng của nhà thơ.

      mở đầu, tác giả gợi mở về thời gian, không gian cũng như điểm nhìn của bài thơ. hai từ “bước tới” gợi đến một sự ngạc nhiên khi nhìn thấy hay tiếp cận con đèo. Đó cũng là thời khắc “bóng xế tà” khi ngày đã sắp tàn và màn đêm đang dần buông xuống. Đứng trước đèo ngang với rừng núi hoang vu xa lạ, những xúc cảm của lòng người đã trào dâng. tiếng “tà” với âm bằng xuất hiện trong văn cảnh tạo nên giai điệu buồn thương man mác, trở thành “vần” của ý thơ:

      “bước tới đèo ngang bóng xế tà cỏ cây chen đá, lá chen hoa”

      khung cảnh thiên nhiên hiện lên với sức sống mãnh liệt. Điệp từ “Chen”, Kết Hợp với việc sử Dụng vần lưng “đá – la la”, lại vừa sửng vần chân “tà – hoa” đã làm cho nhạc điệu thơ du dương và rer rắt. cảnh đèo hiện lên thật hoang vu và có chút cằn cỗi.

      không chỉ thiên nhiên, with người cũng đã xuất hiện trong bức tranh đó:

      “lom khom dưới núi tiều vài chú lác đác bên sông chợ mấy nhà”

      cách sử dụng từ láy “lom khom” và “lác đác” kết hợp với nghệ thuật đảo ngữ nhấn mạnh vào sự nhỏ bé, thưa thớ> cont cp. cont cp.

      ngoại cảnh đã hòa hợp với râm cảnh người nữ sĩ trong buổi chiều tà nơi đèo hút hút gió. nữ sĩã sửng dụng Bút phapp miêu tảng trưng và ước lệ của thi pháp cổ (ngư, tiều, Canh, mục) Kết hợp với cảm hứng ầy thi cảm và sáng tạo.

      “nhớ nước đau lòng con cuốc cuốc thương nhà mỏi miệng cái gia gia”

      nghệ thuật đối và đảo ngữ được sử dụng ở phần thực đã tiếp tục được phát huy tác dụng mỺng một cách tri Đó là tiếng chim cuốc, chim đa trong bóng chiều tà. Đó là “nhớ nước đau lòng” và “thương nhà mỏi miệng” đã được đặt trong thế đăng đối và hòa hợp. Ý thơ đã thể hiện người nữ sĩ lấy ngoại cảnh để phô diễn tâm tình. Đây cũng là một nét đặc sắc và nổi bật trong phong cách sáng tác của bà huyện thanh quan. thơ tả cảnh ngụ tình nên nhạc, nên họa đã diễn tả cảnh đèo ngang lúc hoàng hôn với nỗi niềm thi sĩ làm ta cảm ng, vươ

      “dừng chân đứng lại: trời, non, nước một mảnh tình riêng ta với ta”

      hai câu thơ kết cuối bài như dồn lại biết bao nhớ thương sâu lắng và dạt dào của người nữ sĩ trong khung cảnh chiều tà. Ứng một mình nơi đèo cao lộng gió trong buổi hoàng hôn, nữ sĩ thấy mình như sống trong tâm trạng lẻ bóng, cô ơn, giữa một khung cảnh thiên nhiên hoang, bao, giữa một khung cảnh thiên nhivilnn hoang vắ, bao, giữa một khung cảnh thiên nhiên hoang, bao, n, giữa một khung cảnh thiên nhiên hoang v ắ, giữa một khung cảnh thiên nhiên hoan >

      hai chữ “đứng lại” diễn tả một tư thế, một tâm trạng xúc động và bồi hồi. “ta với ta” là ba chữ ắt giá kết hợp với điệp ngữ lay âm, ặt trong mối tương phản với “trời, non, nước” đã cho thấy cai mênh mang bao la với sự loi, ơc “long người. lên một sự trống vắng không thể nào kể xiết.

      “qua Đèo ngang” là bài thơ nôm kiệt tác được viết theo thể thất ngôn bát cú Đường luật. bài thơ đã cho thấy phong cách sáng tác của bà huyện thanh quan.

      phân tích bài thơ qua Đèo ngang – mẫu 9

      một trong những nữ thi sĩ tiêu biểu của nền văn học việt nam trung đại là bà huyện thanh quan. tác phẩm nổi bật của bà phải kể đến bài thơ “qua Đèo ngang”.

      “bước tới Đèo ngang, bong xế tà, cỏ cây chen đá, lá chen hoa”

      thời điểm mà bà huyện thanh quan bước đến đèo ngang là khi “bóng xế tà” – kết thúc của một ngày. Đó là khi con người trở về nhà để nghỉ ngơi sau một ngày mệt mỏi. trước mắt tác giả là thiên nhiên nơi đèo ngang trần đầy sức sống. cách sử dụng điệp từ “chen” kết hợp với hình ảnh “đá, lá, hoa” cho thấy sự sống đang trỗi dậy. khung cảnh đèo ngang được khắc họa chỉ bằng vài nét nhưng lại hiện ra đầy chân thực và sinh động.

      và trong nền bức tranh thiên nhiên đó, with người xuất hiện. nhà thơ đã sử Dụng nGhệ thuật ảo ngữ trong hai câu thơ tiếp Theo: “Lom khom – tiều vài chú”, “lac đác – chợ mấy nhà” cho thấy hình ảnh vài chú tiều với dáng ứ căn nhà nhỏ be thưa thớt, lác đác bên sông. cách sử dụng nhằm nhấn mạnh sự nhỏ bé của con người giữa thiên nhiên rộng lớn. từ đó, sự cô đơn của tác giả càng được thể hiện rõ hơn.

      “nhớ nước, đau lòng, con quốc quốc, thương nhà mỏi miệng, cái gia gia.”

      hình ảnh “with quốc quốc” và “cái gia gia” không chỉ là hình ảnh thực về hai loại chim (chim đỗ quyên, chim đa đa). tiếng kêu “quốc quốc”, “đa đa” nghe da diết đã còn bộc lộ nỗi lòng nhớ thương của mình với đất nước, quê hương.

      ến câu thơ “dừng chân ứng lại, trời, non, nước” khắc họa hình ảnh nhà thơ một mình ứng tại nơi đi ngang, ưa mắt nhìn ra xa c sự cô đơn của nhà thơ: “một mảnh tình riêng” – tình cảm riêng tư của nhà thơ không có ai để chia sẻ:

      “dừng chân đứng lại trời, non, nước một mảnh tình riêng, ta với ta”

      cảnh vật thiên nhiên thì rộng lớn, with tác giả chỉ có “một mảnh tình riêng”. và cái mảnh tình con con ấy cũng chỉ có “ta với ta”. nếu trong “bạn ến chơi nhà”, nguyễn khuyến dùng cụm từ “ta với ta” – “bác ến chơi đy ta với ta” ể ển tả tình bếm.thi thì trong bài qua đèo ngang, cụm từ “ta với ta” càng bộc lộ thêm nỗi cô đơn của tác giả.

      qua Đèo ngang gửi gắm nỗi lòng yêu quê hương, đất nước tha thiết của bà huyện thanh quan.

      Đang xem: 60 Câu châm ngôn, danh ngôn, STT, Cap hay nói về cuộc sống khiến bạn lạc quan yêu đời hơn

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Back to top button