Văn mẫu lớp 10: Phân tích 8 câu đầu bài Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ Dàn ý & 5 bài văn mẫu lớp 10

phân tích 8 câu ầu tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ gồm dàn ý và 5 mẫu dưới đây không chỉ giup các các em lớp 10 ý tưởng hay cho bài viết của mình mà còn nâng cao hiểu biết về hoàn cảnh ra đời, nội dung bài thơ. qua đó thấy được tiếng nói xót thương cho số phận người phụ nữ trong chiến tranh và đồng cảm với khát vọng sum vầy của họ.

tám câu thơ ầu tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ đã cho khiến những cặp vợ chồng are phải xa nhau trong nhớ thương. Đó cũng là tinh thần nhân văn, nhân bản cao đẹp của tác giả. vậy dưới đây là 5 bài phân tích 8 câu đầu tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ hay nhất, mời các bạn cùng theo dõi tại.

dàn ý 8 câu đầu tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

1. mở bai

– giới thiệu tác giả, tác phẩm, đoạn trích và 8 câu đầu của tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ.

2. thanks bai

*hành động của người chinh phụ

  • dạo hiên vắng thầm gieo từng bước
  • ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen
  • người chinh phụ vừa đi vừa đếm bước chân mình, như đang đếm từng ngày xa chồng.
  • những bước chân của người chinh phụ tưởng như lặng lẽ, nhưng lại mang theo nỗi ưu phiền, lo lắng cho người chồng ở ng.
  • => Đó là những bước chân nặng trĩu tâm tư, sự thương nhớ và nỗi xót xa.

    – người chinh phụ ngồi bên cửa sổ, hết buông lại cuốn rèm như một hành động vô thức, lặp đi lặp lại.

    => she nàng không ý thức ược mình đang làm gì, vì she đã dồn hết tâm tư, sự lo lắng, nhớ nhung cho người chồng de ella nơi biên ải she chẳng míềt biếot.

    • tính từ “vắng”, “thưa” tạo nên sự trống trải cho không gian, tô đậm sự buồn tủi, cô đơn của người chinh phụ.
    • sử dụng từ “từng”, “đòi” càng nhấn mạnh sự lặp lại vô thức những hành động vô nghĩa của người chinh phụ.
    • =>

      *ngoại cảnh: 6 câu tiếp theo

      • chim thước: loài chim báo tin người đi xa trở về.
      • người chinh phụ ngóng trông bong chim thước qua bức rèm thưa.
      • nhìn về thực tại với những nỗi nhớ, sự trông ngóng, ước muốn sum vầy ều xa vời, không ược hồi âm, người c chinhà ph pareth.
      • khi ối diện với ang đèn, người chinh pHụ khao khát ược yêu thương và sẻ chia, câu hỏi từ từ khi ngồi trước ngọn đu dầnnh là một lờt Than Th, c. tuyệt vọng.
      • hình ảnh ngọn đèn là một hình ảnh quen thuộc, xuất hiện nhiều trong các tác phẩm văn học trung đại.
      • trong đoạn trích, ngọn đèn được sử dụng để ẩn dụ cho thời gian trôi nhanh, ẩn dụ cho sự lụi tàn, héo hon của mỿt ki.

        => cuộc đời như một kiếp hoa đèn mong manh dang dở.

        *hình ảnh chờ đợi của người chinh phụ

        – người chinh phụ thức trắng đêm cùng ngọn đèn vì xót xa cho tình cảnh của chính mình. nhưng thời gian trôi qua, ngọn đèn cũng chẳng thức cùng nàng, chỉ để lại bóng dáng cô độc của người chinh phụ.

        – tính từ “bi thiết”, “buồn rầu”, “thương” thể hiện tâm trạng não nề của người chinh phụ:

        • Bi Thiết Là Bi Thương, Thảm Thiết, Là nỗi đau Không Thể Nói Thành Lời, Là Khát Khao ượC Thấu Hiểu, ượC Sẻ Chia NHưNG LạI CHẳNG AI AI ể ể ể ể
        • thiết tha là cắt, mài (theo nghĩa hán việt): thể hiện nỗi đau chôn giấu tạo nên vết cắt sâu trong tâm khảm.
        • => nỗi đau. sự buồn tủi, khắc khoải của nàng mãi dồn nén trong tim de ella, ể rồi cứa vào trái tim cô ơn, khiến nỗi đau càng dày thêm theo từng ngày ng tros

          *nghệ thuật

          • BUTI PHAPPP
          • Đoạn trích sử dụng nghệ thuật miêu tả tâm cảnh bằng ngoại cảnh cùng nhiều tính từ chỉ cảm xúc.
          • => tác giả đã thành công xây dựng hình ảnh người chinh phụ mang suy tư rối bời, tâm trạng héo mòn chạm đến trái tim người đọc. Ồng thời, gợi nên sự ồng cảm sâu sắc ối với những người pHụ nặng tình trông ngóng bong dáng người chồng đang tham gia những cuộc chiến tranh phimhn ạng ạng

            3. kết bai

            nêu giá trị của đoạn trích cùng 8 câu đầu trong “tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”.

            xem thêm: dàn ý 8 câu đầu bài tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

            tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 8 câu đầu

            “Chinh phụ ngâm khúc” bằng chữ Hán của ặng trần côn, một danh sĩ hiếu học, tài ba sống vào khoảng nửa ầu thế kỉ xviii, là một kiệt tac trong nền văn văc cổc cổc cổc hóa thân kì diệu qua bản tương truyền của nữ sĩ Đoàn thị Điểm.

            đoạn trích “tình cảnh lẻ loi của người chinh pHụ” là sự thể hi sâu sắc nhất cảm hứng nhân ạo và nghệ thuật tả cảnh ngụ tình của angơ “chinh pHụ ngâm ngâm khú”. câu thơ nào cũng ầy ắp tâm trạng nhớ nhung sầu của nàng chinh phụ, nhất là tám câu ầu đoạn trích “tình cảnh lẻ loi cờa phiỰ chin>”:

            “dạo hiên vắng thầm gieo từng bướcngồi rèm thưa rủ thác đòi phen. ngoài rèm thước chẳng mách tintrong rèm, dường đã có đèn biết chăng? Đèn có biết dường bằng chẳng biết, lòng thiếp riêng bi thiết mà thô. buồn rầu nói chẳng nên lời, hoa đèn kia với bóng người khá thương. ”

            ngôi nhà, phòng khuê giờ đâu trở nên thật tối tăm, chật chội. người vợ trẻ dường như đã chờ chồng từ lâu lắm rồi. she nàng luôn khắc khoải mong chờ chồng, nỗi she cô đơn như bao trùm lấy nàng:

            “dạo hiên vắng thầm gieo từng bướcngồi rèm thưa rủ thác đòi phen. ngoài rèm thước chẳng mách tintrong rèm, dường đã có đèn biết chăng?”

            nàng dường như quên hết mọi thứ xung quanh. cái cô ơn, khắc khoải ở trong de ella tâm trí de ella đã len lỏi, gặm nhấm nàng ể rồi nó hiện thành hình hài qua dáng vẻ thơ thơn thẩn nhƝn hư mẻ. nhịp thơ chậm gợi cảm giác như thời gian ngưng đọng. giữa không gian tịch mịch, tiếng bước chân như gieo vào lòng người âm thanh lẻ loi, cô ộc dáng vẻ ủ ê, ngao ngán, bề ngoài gầy gò khắc sâu, hằn nếp nỗi đi i i i i i i i i i i i i i i i i i i i i i i i i i i i i i đi i i i i i i i i i i i i i i i i i i i i i đi đi đi đi đi đi đi đi đi i i đi i i đi đi. she nàng thật bơ bơ, lạc lõng, lại đáng thương quá đỗi. she nàng she biết làm gì đây khi ngày lại tiếp ngày, đêm lại tàn đêm trong nỗi she nhớ mong vô vọng. she hết ngồi lại đứng, hết đứng lại đi, tâm trạng bồn chồn, buông rèm xuống lại kéo rèm lên, chỉ một mình một ag hubón giđya. . Đã lâu lắm rồi she “thước chẳng mách tin” she không có một lá thư, cũng không có người thân qua lại.

            nội tâm của nhân vật gần như được lột tả trọn vẹn từ dáng vẻ bên ngoài đến những xáo trộn bên trong. Đạp lại cho những mong mỏi của nàng chỉ có một sự im lặng, im lặng đến rợn người. nàng không khóc mà ta như cảm được bao dòng lệ chứa chan tủi hờn đã cạn, đã thấm sâu vào nỗi buồn mênh mang không lối thoát.

            “sầu ôm nặng hãy chồng làm gốimuộn chứa đầy hãy thổi thành cơm. ”

            trong sự cô đơn, lẻ loi người chinh phụ lại càng mong có người đồng cảm và chia sẻ tâm tình:

            “Đèn có biết dường bằng chẳng biết, lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi. buồn rầu nói chẳng nên lời, hoa đèn kia với bóng người khá thương. ”

            có ai hay cho cảnh biệt li não nề này?không ai cả! chỉ có một mình nàng trong canh vắng, nàng chỉ có người bạn duy nhất là ngọn đèn vô tri vô giác. phải chăng tác giả đưa ánh đèn đến cùng nàng để mong xua bớt cái tịch liêu của đêm tối hay cũng chính là cõi lòng tan nát c჻ ჻y ƺv? nhưng ta còn thấy gì sau hình ảnh đó? một chiếc đèn khuya en bóng dáng lẻ loi của một người with gái trong canh trường liệu có xua tan ược phần nào sự côc của đm? hay nó càng khắc khoải sơn. tả đèn chính là để tả không gian mênh mông và sự cô đơn của with người. biện pháp này khá phổ biến trong thơ xưa , mang tính biểu cảm cao:”Đèn thương nhớ ai mà đèn không tắt”. hình ảnh đèn ở đây được nhắc đến liên tiếp trong ba câu thơ là vì vậy. nhìn ngọn đèn cháy năm canh, dầu đã cạn, bấc đã tàn, nàng chợt liên tưởng ến de ella tình cảnh của mình và trong lòng rưng rưng thânƺnỗi thânỗi. she thương cho đèn rồi lại thương cho lòng mình bi thiết.

            “buồn rầu nói chẳng nên lời, hoa đèn kia với bóng người khá thương. ”

            về nGhệ Thuật, với thơ Thơ Song Thất Lục Bát, Cách Dùng từ, Hình ảnh ước Lệ, đoạn Thơ đ ể ể ể ể ể ể ể ể ể ể ể ể ể ể côi côi c. chinh phụ luôn khao khát được sống trong tình yêu và hạnh phúc lứa đôi. về nội dung, đoạn trích cũng thể hiện tấm lòng thương yêu và cảm thông sâu sắc của tác giả với khát khao hạnh phúc chính đaang c᧰hchinh cất lên tiếng kêu nhân đạo, phản đối chiến tranh phong kiến ​​​​phi nghĩa.

            qua đoạn thơ, ta cảm nhận chất nhạc lôi cuốn trong thơ song thất lục bát, khả năng lớn lao của tiếng việt trên lĩnh trữc t. Đoạn thơ giàu giá trị nhân văn, đã thể hi sâu sắc và cảm ộng sự oan ghét chiến tranh phong kiến ​​và niềm khao khán tình yêu, hạnh phú đ đ đ đ đ

            phân tích 8 câu đầu bài tình cảnh lẻ loi ngắn gọn

            dưới trí taệ của dịch giả đoàn thị điểm – người “tài sắc nương tử xưa hiếm nay không, xuất khẩu thành chương, bản chất thông minh” mà tuyệt tac Hán ngôn lần nữa thăng hoa. NHữNG NăM 40 CủA THế Kỉ XIV, Bão Táp Liên Miên, loạc khắp nơi, người chinh pHụ tiễn chinh phu ra trận… đã ược phục dựng lại dưới những vần thơ câu đầu của “tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”. Đoạn trích ngắn nhưng Đoàn thị Điểm đã làm nổi bật lên hình ảnh người chinh phụ trong nỗi she cô đơn lẻ ờbong chụp > n.

            “dạo hiên vắng thầm gieo từng bướcngồi rèm thưa rủ thác đòi phen.”

            hai câu thơ đầu đoạn trích là bong hình ngóng trông của người chinh phụ. hình ảnh ấy ược thể hiện qua các ộng từ “dạo”, “rủ”, “thc”, “gieo từng bước” bởi nó tạo nên sự ối lập giữa bên ngoài haveh tịnh, nhàn nhã vâi Ture ế hơn nữa, tính từ “vắng”, “thưa” tôn lên sự lẻ loi, cô độc, bóng chiếc của người phụ nữ trong đêm. như vậy, tác giả đã sử dụng ngoại cảnh để thể hiện tâm trạng nhân vật.

            tiếp đó, người chinh phụ dường như hướng ra bên ngoài chờ một tin báo đủ mạnh để an lòng:

            “ngoài rèm thước chẳng mách tin”

            chim thước là loài chim khách, nó vốn thuộc về bầu trời cao rộng. ngóng tin từ chim thước thật vô vọng, mơ hồ. từ phủ định “chẳng” như khẳng định thêm sự tuyệt nhiên không có lấy một âm thanh tin tức nào. vậy nên, người phụ nữ hướng vào không gian bên trong, trò chuyện với cây đèn, tìm kiếm chút tâm tình, thỏa mãn sự cô đơn:

            “trong rèm, dường đã có đèn biết chăng? đèn có biết dường bằng chẳng biết, lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi.buồn rầu nói nó >

            đoạn thơ khiến ta liên tưởng tới hình ảnh vũ nương trong “chuyện người with Gái Nam xương” của nguyễn dữ khi chọn cach chỉ vào cai bong tường và nó đ đn ủn Đó dường như là cách người phụ nữ gửi gắm nỗi nhớ thương chồng of her. gửi tâm sự vào đèn, người chinh phụ trong bài thơ có lẽ cũng đang da diết nhung nhớ lang quân. bởi người phụ nữ đã gọi “đèn” và xưng “thiếp”. mặt khác, hình ảnh đèn khiến ta liên tưởng tới những bài thơ, bài ca dao xưa:

            “khăn thương nhớ ai,khăn chùi nước mắt.Đèn thương nhớ ai,mà đèn không tắt.mắt thương nhớ ai,mắt ngủ không yên.”

            Ánh đèn như tôn thêm vẻ vắng lặng đơn côi, mỏi mòn chờ đợi cả ngày dài và thổn thức suốt đêm thâu. nhưng đèn là vật vô tri, đèn không thể giãi bày tâm sự với người phụ nữ, vậy nên nhân vật trữ tình càng thêm “buồn khn nói. cái cảnh “nói chẳng lên lời” như là bất lực, uất nghẹn lắm. Đoạn thơ còn xuất hiện thêm hình ảnh sóng đôi “hoa đèn” – “bóng người”. Thay vì đèn, tac giả lại nói “hoa đèn” ể liên tưởng tới sự tàn lụi, cạn dầu tương ương với cảnh người phụi ợi chời tới horo, Thanh xuân qua đ đ đ từ hành động, ý thơ dường như lại khắc họa sự bất động. Đặc biệt, hình ảnh người phụ nữ bên ngọn đèn dầu còn kết đọng ở cảm xúc “bi thiết”, “khá thương”. nỗi buồn đau, cô ơn, lắng lo, mong ngóng, bất lực, nghẹn ngào … tất cả như đan xen, cuộn trào từng ợt trong lời “lòng thiếp riêng bi thi thi” và rồmn ẳmn ẳmn n l n l n l n l n l n l n l n l n l n l n l n l n l n l n l n l n l n l n l n l n l n l ”n l ”n l ”n l ”n l ”n l ”n l ”n l ”n l ”n l ”n l ”n l ”n l ”n l ”n l ”n l ”n l ”n l ”n l ”n l ”n l ”n l ”n l “và rồn lồn lờn l ”nl” v. “khá thương”. cảm xúc có sự vận động từ thương chồng đến thương mình, từ than thở tới tuyệt vọng.

            tóm lại, đoạn trích 8 câu ầu trong “tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” – đàn thị điểm là tiếng nói xót thương cho số người phụ nữ ná ồ ni ầ ni ầm v. . cho đến tận bấy giờ, lần đầu tiên mới có những tấm lòng chân chính biết thương cảm cho những người phụ nữ nhỏ bé. Đó cũng là tinh thần nhân văn, nhân bản cao đẹp của tác giả.

            phân tích 8 câu đầu bài tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

            Đặng trần côn là một tác giả nổi tiếng bởi tài nghệ văn chương lừng danh gắn liền với nhiều tác phẩm mang đậm giá ịđ th. Trong đó, “Chinh phụ ngâm” là một tac pHẩm thuộc thể loại ngâm khúc đã làm nên tên tên tó tổi của ông bởi giá trị hi hiện thực và giá nâs trị đoạn tribr “tình cả tc phẩm này, nó thể hiện nỗi mong nhớ da diết của người chinh phụ khi chồng chinh chi nơi sa trườt. ẶC Biệt, Tám Câu Thơ ầu của đoạn trích sẽ giup người ọc cảm nhận sâu sắc nhất về tình cảnh trống vắng cùng những cung bậc cảm xúc của nh vật.

            mở đầu đoạn trích là tâm trạng rối bời của người chinh phụ được thể hiện qua những hành động vô thức:

            dạo hiên vắng thầm gieo từng bướcngồi rèm thưa rủ thác đòi phen

            Đây phải chăng là lời than thở triền miên, da diết của người phụ nữ có chồng đang chinh chiến nơi sa trường. Tac Giả đã Sử DụNG BUTI PHAPP MIêu tảii tâm thông qua ngoại cảnh ể miêu tả hành ộng lặp đi lặp lại trong vôc, không có mục đích của người người pHụ. qua hành ộng đó, ta như hình dung ược dáng vẻ buồn rầu, không nói nên lời của người chinh phụ nơi hiên vắng thẫn thờ ợi chƻồng.

            bấy giờ đã là chiều tối – khoảng thời gian ảm ạm, hắt hiu nhất của một ngày – người chinh phụ lại đang gieo từng bước n vƺn. chính không gian, thời gian đó đã tô đậm bước chân cô đơn, quạnh vắng của người chinh phụ. trong khung cảnh đó, người ta đang sum họp bên gia đình sau một ngày dài, thì người chinh phụ lại chỉ có một mình lẻ bóng, không có chồng bẗ vạn.

            .

            cảm giác trống vắng dường như bủa vây nơi trái tim người phụ nữ, khiến cho bước chân của nàng cũng thật chậm rãi và mệt. mỗi một bước chân là một tiếng thở dài cho những nỗi chất chứa trong lòng, cho nỗi ưu tư phiền muộn của người phụ nởngỻ đang ch n. nhưng rồi, người chinh phụ chỉ có thể quặn thắt lòng bởi vì đáp lại cũng chỉ là tiếng bước chân âm thầm của mình.

            hành động buông rèm của người chinh phụ cũng là một hành động lặp đi lặp lại trong vô thức, chẳng có mục đích rõ ràng. Đó phải chăng là hành động che lấp đi sự tù túng, nóng ruột của người phụ nữ? hay là nỗi nhớ nhung da diết đan xen với sự lo lắng cho an nguy của chồng mình? nỗi nhớ da diết cùng sự mong ngóng tin chồng như dồn nén ở người chinh phụ, để rồi tô đậm cảm giác cô đơn buồn tủi càng. nhưng rồi, càng mong ngóng, đáp lại nàng vẫn là hiện thực đau thương.

            “ngoài rèm thước chẳng mách tintrong rèm dường đã có đèn biết chăng”

            thước là một loài chim báo tin người đi xa trở về. NHưNG MặC CHO NGườI đANG NGONG TRWNG, THướC LÚC Này LạI IM BặT KHIếN CHO NớI NHớ CUEG NỗI KHắC KHOảI ợI MONG CủA Lòng người Càng tăng lên gấp bộp bộp bội. chim thước chưa mách tin, người chồng nơi xa vẫn chưa trở về, làm sao ella nguôi được nỗi đau quặn thắt này? nỗi đau ấy quá lớn khiến nàng càng có khát khao được sẻ chia, được tâm sự, được đồng cảm. nhưng, đối diện với khung cảnh đau thương này, làm bạn với nàng cũng chỉ có ngọn đèn leo let.

            sự cô ơn ến tột cùng đã khiến nàng phải tự hỏi, liệu ngọn đèn ấy có hi hiểu thấu lòng nàng, có chiếu sáng ược tâm can rối bời của nàng, có sưởm ấm ấ nó có hiểu được sức nặng của cô đơn, có từng biết sự nhung nhớ dồn nén đau đớn đến mức nào? dĩ nhiên, ngọn đèn chỉ là một vật vô tri vô giác, nó làm sao hiểu được lòng người. Đối diện với điều đó, nàng vẫn muốn bày tỏ nỗi lòng của mình, there is đó chính là lời than thở of her, là hello vọng của nàng khiến d nôp?

            Đèn có biết dường bằng chẳng biếtlòng thiếp riêng bi thiết mà thôi

            hình ảnh đèn ược lặp lại hai lần như thể hi sự giải tỏa tâm sự với ngọn đèn của người chinh pHụ, nhưng một ngọn đn vô vô vôc luchi hiõnn, bu. Vậy nên, nàng chỉc có thể ôm mọi thứ gói vào lòng, ể rồi nhìn ngọn đèn leo let trong màn đêm tĩnh mịch, nỗi đau ạngi ch ngọn đèn là hình ảnh ả người chinh phụ, nó lại càng khắc sâu vào tim nàng nỗi cô đơn, khắc khoải, rối bời.

            “buồn rầu nói chẳng nên lời, hoa đèn kia với bóng người khá thương”

            người chinh phụ buồn rầu nói chẳng nên lời, nàng chả buồn nói, cũng chả muốn cười. bên cạnh nàng giờ đây chỉ còn lại hoa đèn, cô đơn đến đáng thương

            hoa đèn là hình ảnh kết thúc cho tám câu thơ đầu tiên của đoạn trích. hoa đèn là ầu bấc đèn dầu đã cháy như than, nhưng nó ược nung ỏ lên nên trông như hoa, hay chynh lòng nàng đang cháy ến tàn ỏ đn kia . trong bóng đêm phủ bởi sự im lặng dằng dặc, người chinh phụ chỉ có thể tâm sự, trò chuyện với ngọn đèn, với cái chìn g chủbón. she phải cô đơn, đau đớn đến bao nhiêu thì she mới phải tìm đến những thứ vô tri vô giác mà trải lòng mình?

            qua đoạn trích trên, tác giả đã sử dụng một cách tài tình bút pháp nghệ thuật ước lệ, kết hợp thể thơ song thất lục bát cùng giọng thơ nhẹ nhàng tha thiết, nhịp điệu chậm rãi đã đặc tả được tâm trạng của người chinh phụ với những mạch cảm xúc và cung bậc khác nhau. t từ đó, nỗi cô ơn c cùng lòng thương nhớ chồng ết đã bùng cháy khát khao cháy bỏng ược sống hạnh phúc trọn vẹn bên ngưỡ mìờthi .

            Đặc biệt, đoạn trích đã mang đến những giá trị nhân văn cao đẹp khi lên án cuộc chiến tranh phi nghĩa cùng những khuôn phép hà khắc của phong kiến ​​​​đã tước đoạt đi quyền được hạnh phúc của rất nhiều người phụ nữ xưa .

            phân tích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ 8 câu đầu

            tình yêu luôn là chủ đề muôn thuở trong văn học và cũng là nguồn cảm hứng bất tận của thi nhân. nếu tình yêu trong thời bình gắn với những ngọt ngào, thơ mộng, thì tình yêu trong thời chiến lại gắn liền với sự chời mỏi mòn và sự biệt ly ớớn. nếu thời ường ở trung quốc, vương xương linh oán ghét chiến tranh phi nghĩa, cảm thông cho tâm trạng người thiếu phụ phòng khus

            “khuê trung thiếu phụ bất tri sầuxuân nhật ngưng trang thượng thúy lâuhốt kiến ​​​​mạch đầu dương liễu sắchối giao phu tế phong mị

            (khuê oán – vương xương linh)

            throng thời lê ởc ta, ặng trần côn đã cảm thông sâu sắc trước sốc sốn những người pHụ nữ có chồng đi lísh màm nên tuyệt tac “chinh phụ ngâm”. Đoạn trích “tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” thuộc tac pHẩm trên đã chạm ến tận cùng trai tim người ọc khi tái hiện ho ành cô ộc, nỗi mơ về hạnh phúc đoàn tụ. Điều ấy được đặc tả trong 8 câu đầu đoạn trích “tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ”.

            chinh phụ ngâm ”ra ời vào khoảng thế kỷ xviii, ầu ời lê hiển tông, khi pHong trào khởi nghĩa nông dân din ra lín mi, triều đình điều binh lih lih lih lih lih lih lih lih lih lih lih lih lih me. Điều đó dẫn đến việc nhiều gia đình rơi vào cảnh ly biệt kẻ ở người đi, vợ mất chồng, mẹ mất with. số phận và bi kịch của những con người nhỏ bé trong cái xã hội phong kiến ​​​​đang đứng bên bờ vực thẳm ấy đã lay động Ẑtr tim Đn trá>

            sau khi tiễn chồng ra trận, người chinh phụ bơ vơ chốn khuê pHòng vắng lặng, lạnh lẽo, nỗi khổ tâm của nàng ược bộc lộ qua hành ộng và ngoại cảnh.

            “dạo hiên vắng thầm gieo từng bước, ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen. ”

            không gian “Hiên vắng”, “Ngoài rèm”, “Trong Rèm” Là Không Gian Chật HẹP, Tù Túng Vắng Lặng Và Hi Hi Hắt Chỉ Có Có vọng tiếng bước chân cỻa gườbón đây là một không g phần thể hiện tâm trạng của người chinh phụ. không gian vắng lặng lúc này là để giãi bày nỗi lòng mình và càng tô đậm thêm sự lẻ bóng của nàng.

            “hiên vắng” bởi lẽ không có người quan trọng nhất kề bên nàng lúc này. tâm trạng người chinh phụ cô đơn, lẻ loi trải dài khắp không thời gian. Ở mọi không gian, khoảnh khắc người chinh phụ đều chỉ một mình một bóng. người chinh phụ dạo bước trong hiên vắng, vừa đi vừa thầm đếm bước chân mình, như đếm từng ngày de ella chồng đi.

            qua 8 câu thơ ầu ta thấy những bước chân lặng lẽ của nàng nặng trĩu u sầu, đong ầy thương nhớ, như bước chân người cung nữ trong ngẩn ngơ”. sự bồn chồn, khắc khoải, mong chờ ược khắc họa qua những hành ộng lặp đi, lặp lại, hết ứng lại ngồi, hếtti hiên rồi lại bước vào pHòng, k. những hành ộng vô nghĩa ấy ược lặp đi lặp lại trong vôc, nàng chẳng còn bận tâm mình đang làm gì bởi tâm trí nàng giờ dồn hết vào ường đng ậng ậng ậng ậ

            “ngoài rèm thước chẳng mách tin, trong rèm dường đã có đèn biết chăng?”

            không gian ngày càng tù túng. với nàng, không gian lúc này chỉ được xác định bằng vị trí của tấm rèm “trong rèm”, “ngoài rèm” mà thôi. không gian càng jue hẹp như tâm trạng của người chinh phụ lúc này ngày càng chìm trong cô độc. nàng khát khao ược ồng cảm, sẻ chia mong tin chim thước ến bao tin chồng trở vềng chim thước nào fo ến, mong ngọn đn hiểu thu và soi tỏ n nng mìnng mìnng nh ưn g. , sẻ chia nỗi buồn cô lẻ.

            nàng nhận ra rằng càng hi vọng, mòn mỏi trông chờ nàng càng hụt hẫng, tuyệt vọng. khát khao sum vầy đoàn tụ, khát khao hơi ấm gia đình của nàng càng khiến nàng đau đớn, thất vọng. Câu hỏi tu từ và điệp từ “rèm” lặp lại ba càng ẩy nàng vào bếc tắc, cai bếc tắc của xã hội phong kiến ​​suy tàn, của triều đình loạn lạc khiến nn nn niềh and thhhhhh and thhhhhh and thhhhhh and thhhhhhhhhhhhhhhh and thhhhhhhhhhhhhhhhhhhhh and ìt ìt ìt. giá trị. Có thểy, phân tích 8 câu ầu bài tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ khiến ta ồng cảm và thương cảm xiết bao về số pHận cũng như tâm trạng mòn mòn ợng ợng ợ

            người chinh phụ hết mong ngày, lại mong đêm, khi bóng tối cô đơn tịch mịch kéo xuống bao trùm lấy nàng, nàng chỉ có thể làg vm bón. nhưng ngay ở câu thơ sau she nàng lại phủ nhận:

            “Đèn có biết dường bằng chẳng biết, lòng thiếp riêng bi thiết mà thôi. ”

            bởi đèn vô tri chỉ có thể soi tỏ bong dáng cô quạnh của nàng nhưng làm sao có thể chia sẻ được. tấm long này chỉ có một minh minh biết, một minh minh hay. Trong qua trình cảm nhận 8 câu ầu bài tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ, ta thấy từ “bi thiết” là một ộng từ mạnh cực tảm giác cô ơn và sự khá ượg kha kha đg kha đg kha ượg kha ượg kha ượg kha ượg kha ượg kha ượg kha ượg kha ượg kha ượg kha ượg kha ượg kha ượg kha ượg kha ượ

            Điệp ngữ bắc cầu “Đèn biết chăng” – “đèn có biết” đã góp phần cho thấy biên độ nỗi nhớ trong nàng ngày càng tăng. hình ảnh ngọn đèn không chỉ làm nổi bật sự cô quạnh khát khao chia sẻ của nàng mà còn là nhân chứng cho thấy người chinh th phụhao. Đặng trần côn mượn cây đèn đang tàn mà ẩn dụ sự trôi đi nhanh chóng của thời gian, sự tàn lụi, héo hon của kiếp người. khi cảm nhận 8 câu ầu bài tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ, ta bỗng nhớ ến ngọn đèn với nỗi nhớ tình and ấy trong bài ca dao “khĂn thương nhớ ai”

            “Đèn thương nhớ aimà đèn không tắt?mắt thương nhớ aimắt ngủ không yênĐêm qua em những lo phiềnlo vì một nỗi không yêền mộp”

            (ca dao)

            hình ảnh ngọn đèn trong bài ca dao cũng nói về nỗi nhớ của cô gái trong tình yêu và những lo lắng băn khoăn về tương lai. thế nhưng, nếu cô Gái trong bài ca dao trên nỗi lo lắng chỉng lại ở liệu mai sau cóc ca Cái kết viên mé choc mối tình mới chớm thì nỗi của người chinh phụ là sự s ự bởi lẽ chiến tranh xảy ra, mấy người đi có mấy người trở về?. khát khao thấu hiểu chia sẻ để rồi nhận ra thực tại phũ phàng không ai có thể cùng nàng chia sẻ đồng cảm. nỗi nhớ cứ thế mà tăng dần và nàng cũng càng thêm cô quạnh…

            “buồn rầu nói chẳng nên lờihoa đèn kia với bóng người khá thương”

            từ thuần việt “buồn rầu” đã diễn tả chân thật và sinh động nỗi buồn của người chinh phụ trong giây phút này. “nói chẳng nên lời” vì nỗi buồn miên man không thể diễn tả được hay vì nói ra cũng chẳng ai sẽ chia. she nàng giờ đây một mình cô đơn không chỉ trong không gian mà còn trong cả tâm tư. khi she cảm nhận 8 câu ầu bài tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ, người ọc cũng nhận ra cụm từ “hoa đèn” cho thấy đm đã gần tàn, người chinh phụ đ đ đ đ đ nỗi nhớ trào dâng như chính tâm trạng của những cô gái trong câu ca dao:

            “nhớ air ra ngẩn vào ngơnhớ ai ai nhớ bây giờ nhớ ai”

            (ca dao)

            hay những vần ca dao:

            “nhớ ai bổi hổi bồi hồinhư đứng đống lửa như ngồi đống that”

            (ca dao)

            nhưng với những cô gái trong ca dao trên đó là nỗi nhớ tương tư khát khao gặp mặt trong tình yêu. còn đối với người chinh phụ đó không đơn thuần là nỗi nhớ mà còn là sự bất an, lo lắng cho người chinh phu. bởi giữa thời buổi loạn lạc, nhà có người đi lính, ‘họa có mấy khi có người về báo tin chiến trận.

            như người xưa từ nói “cổ lai chinh chiến kỷ nhân hồi?”. Không Nghe tin chồng nàng chỉ có thể chờ ợi trong lo sợ, nàng như chết dần chết mòn vì sự bi thiết Trong lòng, sự bi thiết ến từi nỗi chờ mong speg Trong cô lẻ, triền miên. “bóng người” ở đây chynh là bóng người chinh phụ chờ chồng trông nhh thương hay chính là hình ảnh người chinh phụ héo hon, tàn tẏ mẏcáng cángờng chờng. khi cảm nhận 8 câu đầu bài tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ, ta cũng thấy tâm trạng ấy phần nào giống với nàng ki

            “người về chiếc bóng năm canhkẻ đi muôn dặm một mình xa xôi”

            (truyện kiều – nguyễn du)

            như vậy, các yếu tố ngoại cảnh đã nói hộ cho nỗi lòng vò võ của chinh phụ ngóng chồng đi chinh chiến. ngọn đèn tắt, bỏ lại người chinh phụ cô quạnh trong đêm dài tịch mịch u sầu. nỗi cô đơn tràn ngập không gian và kéo dài vô tận theo thời gian she luôn đeo đẳng, ám ảnh nàng. cảnh vật xung quanh không thể san sẻ mà ngược lại như cộng hưởng với nỗi sầu miên man của người chinh phụ, khiến nàng càn đớu. Có thểy rằng, khi cảm nhận 8 câu ầu bài tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ, ta cũng nhận ra số pHận c cùng nỗi cô ơn ến c cực cựa những người pt ụ ơn ến c c cáng cực cựa những người phụ nữ n.

            văn học là người thư ký trung thành của trái tim. Chỉ Với 8 Câu ầu, Tac Phẩm đã Chạm Vào Tim Tim Người ọC, Gieo Vào đó những cảm xúnc sâu lắng về nỗi buồn, sự cô ơn của người chinh phụ trong cờnh ợi mỏn. qua đó, ta thấy được trái tim nhân đạo của người nghệ sĩ. chính điều đó đã góp phần tạo nên sức sống cho tác phẩm. và “chinh phụ ngâm” xứng đáng với lời nhận xét “thời gian có thể phủ bụi một số thứ. nhưng cũng có những thứ càng rời xa thời gian, càng sáng, càng đẹp”. (nhà phê bình văn học phạm xuân nguyên).

            phân tích 8 câu đầu bài tình cảnh lẻ loi

            đoạn trích tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ trích trong “chinh phụ ngâm” của ặng trần côn là một ang angơ there are thuộc thể ng cùng sâu sắc. Đặc biệt chính là tâm trạng hiu quạnh cô đơn của người chinh phụ trong 8 câu thơ đầu tien

            hai câu thơ đầu, Đặng trần côn tâm trạng của người chinh phụ đã được khắc họa qua các hình động:

            “dạo hiên vắng thầm gieo từng bước,ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen”

            tiếng that ầy oan trach của người pHụ nữ vắng bong chồng, khi chồng phải ra chiến trận, chynh cai hành ộng lặp đi lặp lại “gieo từng”, “rèm mà dụng ý Trạng cô ơn trống vắng, nỗi nhớ diết chồng của người chinh phụ. khung cảnh là buổi chiều tối, với một hiên vắng hành ộng lặp đi lặp lại vắng ường ường ường. hành động gieo từng bước như nỗi lòng nặng trĩu mong ngóng ngày người chồng trở về.

            “ngồi rèm thưa rủ thác đòi phen” chiếc rèm cuốn lên hạ xuống như vô thức thể hiện một trạng thái tâm lý buồn bã, chán chư. cảm giác bất an lo lắng cho người chồng ngoài chiến trận vừa là nỗi nhớ tha thiết, cảm xúnc dồn nén càng làm cho người chinh phụ nên bồn bồn buồn

            “ngoài rèm thước chẳng mách tin”

            chờ đợi nhưng chẳng thấy tin? chim “thước” là biểu tượng của điềm lành sẽ có người đi xa trở về. thế nhưng chảyy hình bong của chim thước ể báo tin nỗi nhớ ầy rẫy khắc khoải, ngóng chờt tín tín hiệu dù chỉ là nhỏ nhoi nhưng không co làng làng làm n. nhưng trong khung cảnh đau buồn này thì chỉ có ngọn đèn leo lét làm bạn với nàng.

            “trong rèm dường đã có đèn biết chăng?”

            sự cô đơn đến cùng cực đã làm cho người chinh phụ phải thốt lên “trong rèm dường đã có đèn biết chăng?” ngọn đèn có thể soi sáng nỗi lòng của nàng người pHụ nữ không, c rọi sáng ược sự nhớ nhung của nàng dành chồng, hai câu thụ tiếp ếi lại

            “Đèn có biết dường bằng chẳng biếtlòng thiếp riêng bi thiết mà thôi”

            tác giả sử dụng điệp ngữ “Đèn biết chăng -đèn có biết” càng làm cho nỗi cô đơn của người phụ nữ kéo dài ra, triền miên ra. hình ảnh ngọn đèn ược sử dụng hai lần như thể là nỗi trút bầu tâm sự của nhân vật trữ tình, ngọn đèn là vật vô tri nó chẳng thể hiểu ượ trạng cho người chinh phụ mà thôi. nhìn ngọn đèn heo hắt trong đêm tối càng làm lòng người thêm ưu phiền mà thô. ngọn đèn sáng ấm áp thể hiện cái đối nghịch của sự cô đơn, rầu rĩ

            “buồn rầu nói chẳng nên lời, hoa đèn kia với bóng người khá thương”

            câu thơ thứ tám kết lại là hình ảnh hoa đèn, như thế nỗi nhớ nhung cứ ọng lại, dồn nén lại, ỏ ỏc như bấc đèn no

            trong bong đêm đen như mực người chinh pHụ chỉt trút bầu tâm sự với ngọn đèn, với cai bong của chynh mình in land tường choc vơi đi nỗi cô ơ ơ ơ ơ

            tam câu thơ ầu trong đoạn trích “tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ” đã cho người ọc thấy ược tâm trạng của người qun phữ cụ. cả do chiến tranh đã khiến những cặp vợ chồng are phải xa nhau trong nhớ thương, các biện phap your từ đã khắc họa nên bao nỗi ưu sầu, nỗi cô ơn trống trải củi củ p>

            xem thêm: cảm nhận 8 câu đầu bài tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *